Sơ lược về cõi quỷ thần và quỷ thần biên trụ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Sơ lược về cõi quỷ thần và quỷ thần biên trụ

Bài gửi by HoangMi on 08/04/12, 10:52 pm

Sơ lược về cõi quỷ thần và quỷ thần biên trụ21/03/2011 09:37 Huỳnh Trung Chánh

Trong thời hạn 49 ngày, nếu không ở vào trường hợp đặc biệt
vãng sinh về cõi Phật, thì tuỳ theo nghiệp lực dẫn dắt mà
thân trung ấm sẽ tái sinh vào một trong sáu cõi (cũng gọi là
lục đạo hay lục thú).


Chúng ta thường tìm thấy trong các tài liệu giáo lý căn bản
Phật Giáo thì lục thú là Thiên, Nhân, A tu La, Địa Ngục, Ngạ
Quỷ và Súc sanh. Theo nhiều vị đạo sư thì Ngạ Quỷ thú phải
được gọi chính xác hơn là Quỷ Thần thú, vì loại chúng sanh
nầy rất đa dạng mà Ngạ Quỷ chỉ là một dạng của Quỷ Thần
thú mà thôi.

A. Vài đặc điểm của Quỷ Thần Thú:

1.Ý nghĩa các danh từ Quỷ, Thần và Ma:

- Theo kinh sách Phật giáo:

+ Quỷ Thần: Tách rời từng chữ thì "Quỷ" có nghĩa là "úy",
là hay khiếp sợ; "Thần" có nghĩa linh thông biến hóa. Quỷ Thần chỉ
chung cho một cõi bao gồm cả bậc thần thông biến hóa đầy uy
đức (Thần) lẫn hạng chúng sinh cùng khổ kinh sợ (Quỷ).

+ Ma: là những lực xấu làm nhiễu loạn kẻ tu hành. Luận
Du-già-sư-địa nêu ra bốn loại ma: Thiên ma, ma ngũ uẩn, ma phiền
não, và ma chết. Thiên ma chỉ chúng sinh ở Tha Hóa Tự Tại Thiên
tức cõi Trời thứ sáu của Dục giới.

Chính Ma Vương La Tuần của cõi nầy cùng đám ma nữ giở mọi trò
biến hóa mong phá hoại Đức Bổn sư Thích Ca khi Ngài sắp thành
Phật.

Còn ba thứ ma kia không phải là một loài chúng sinh mà chỉ là
thứ mãnh lực tiêu cực phát xuất từ sinh lý và tâm lý của con người,
cũng gây nhiễu loạn và phá hoại công đức kẻ tu hành.

- Theo tín ngưỡng dân gian:

+ Thần: bậc siêu phàm khuất mặt, linh thiêng có thể gây phúc họa được người tôn thờ.

+ Ma: người đã chết nói chung (nên thây người chết gọi là thây
ma) và cũng chỉ riêng cho hình bóng người chết hiện hình.

+ Quỷ: là loại ma hung dữ gây tác hại và nguy hiểm cho người sống.

- Tóm lược: Chữ Quỷ trong Phật giáo bao gồm cả hai loại Ma và
Quỷ theo dân gian, riêng chữ Ma theo Phật giáo có ý nghĩa khác
biệt như đã ghi trên.

2. Chủng loại Quỷ Thần:

Quỷ thần có vô số chủng loại và hiện hữu ở khắp cõi khác,
từ cõi thiên cho đến địa ngục, súc sinh. Ta chỉ có thể tạm
chia thành hai loại là: quỷ có uy đức (hay uy phước) và quỷ không
có uy đức.

a. loại uy đức có cung điện, thân tướng trang nghiêm, có nhiều kẻ
thuộc hạ tùy tùng, được thọ dụng những trân vị cam lồ, hoặc được
người thờ cúng.

- Thiện quỷ thần đại uy đức như chư vị: Đại Phạm Thiên Vương,
Tam thập thiên vương, Tứ thiên vương, Diêm Ma vương, Nan đà long
vương, Bạt đà long vương...

- Uy đức bậc trung như quỷ Dạ Xoa, quỷ La Sát, quỷ Cưu bàn Trà
(Quỷ nầy có thể biến làm cảnh giới ngũ trần vui sướng để hưởng thọ),
quỷ Địa hành dạ-xoa (địa hành: đi đất) luôn luôn được nghe những âm
nhạc vui vẻ và được ăn uống (theo kinh Chánh Pháp niệm xứ), quỷ Đa tài
Đại phúc hưởng phước đức như cõi Trời(theo P.G. Chánh Tín, HT
Thánh Nghiêm)

(Ngài Hư Vân cũng lời dạy tương tự với vài hàng vắn tắt như
sau: Các quỷ vương như Diêm Vương và Thành Hoàng đều hưởng lạc nhiều mà
thọ khổ ít hơn những loài quỷ cô hồn vô chủ. Khổ nhất là loài ngạ
quỷ, là loại chúng sanh trong địa ngục thường thọ vô biên khổ cực,
chẳng hề được sung sướng)

Trong loại quỷ thần uy đức cũng có thể tùy theo tâm địa mà phân thành:

- thiện quỷ thần (tức chánh thần) là bậc chân chánh hộ trì
chánh pháp, hộ trì nhân gian như các bậc Thiên vương đã ghi trên.

- ác quỷ thần như Quỷ La Sát

- vừa thiện vừa ác: như Quỷ Dạ Xoa.

b. loại không uy đức lâm cảnh vất vả, sống âm u tăm tối, thường đói khát hoặc ăn uống bất tịnh:

- Loại ít đói như quỷ hy vọng (mong cầu người ta thờ cúng tế mới ấm
no), quỷ hy khí (mong cầu đồ vật người ta vất bỏ để mà ăn).

- Loại đói nhiều, như quỷ châm mao (lông như kim), quỷ xú mao (lông hôi thối), quỷ đại anh (thân đầy lở lói).

- Loại đói thường trực kinh khủng như các loài ngạ quỷ: quỷ cự
khẩu, quỷ châm yết, quỷ xú khẩu (cự khẩu: miệng như lửa; châm yết: cổ
như kim; xú khẩu: miệng rất hôi thối).

c. loại tạm gọi uy đức trung bình: là loại có uy phước chút ít, khó xếp hẳn vào một trong hai loại trên, như:

- quỷ Hy Tự, hành động được tự do, có thể đi hết các phương dễ dàng
cũng như chim bay giữa trời, qua lại không ngăn ngại (luật Thuận Chánh
Lý, quyển ba)

- quỷ Tự do: những kẻ trong lúc bình sanh không làm lành, cũng không
làm dữ; thì sau khi chết rồi không có quả báo gì xuất hiện, cho nên sẽ
làm loài quỷ và được tự do. Loài quỷ này thường hay nương náu nơi mồ mả
của mình hoặc mồ mả của kẻ khác; dựa theo cái dư khí của cốt tủy mà được
hiển linh. Cho nên nếu ai có cúng tế, thì cũng được hưởng thụ. Đến khi
xương tủy đã mục nát, thì mất chỗ nương tựa, liền tìm đến chỗ nào xương
tủy chưa mục nát và vô chủ để nương tựa (theo Kinh Quán Đảnh)

3. Xứ sở của Quỷ Thần:

Quỷ Thần có nhiều chủng loại, vì vậy trụ xứ của Quỷ Thần
cũng hoàn toàn khác biệt, như chư Thiên Vương thỉ dĩ nhiên xứ
sở phải là cõi Thiên. Tuy nhiên, riêng đối với chư Quỷ thần
thiếu uy đức thì xứ sở của quỷ thần có hai nơi gọi là chánh
trụ và biên trụ: Theo kinh Chánh Pháp Niệm thì:

- Chánh trụ là xứ sở riêng của loài quỷ nghiệp nặng, thuộc về thế giới
ngạ quỷ, nằm trong thành Diêm La, nơi ở chánh thức của vô số ngạ quỷ
do Diêm La Vương thống lãnh.

- Biên trụ là xứ sở của các quỷ thần nghiệp nhẹ hoặc có phước nghiệp,
thuộc về hạng ở lẫn lộn trong loài người. Biên trụ là những chỗ như mé
biển, triền núi, rừng bụi, đình miếu, hang hố, đồng trống, mồ mả, cho
đến vườn nhà cùng các nơi thanh tịnh lẫn bất tịnh.

4. Hình thức tái sinh vào Quỷ Thần thú:

- loại thai sinh rất hiếm như Quỷ La Sát, Quỷ Tử Mẫu...

- loại hóa sinh gần như hầu hết (có thể coi như 99.99%)

B. Vài nhận định về các loại Quỷ Thần Biên Trụ tức loại sống lẫn lộn trong loài người:

1. Nguyên do hóa sinh của Quỷ Thần Biên Trụ:

Chư Quỷ thần nầy vốn đã có nhiều duyên nghiệp với loài người,
nên bằng nguyện lực hay nghiệp lực đã hóa sinh về biên trụ
sống lẫn lộn với người:

- chư Bồ Tát do nguyện lực hóa hiện về cõi Ta Bà để hộ trì
Phật Pháp, phổ độ chúng sinh. Thí dụ như nhị vị Dạ Thần: Bà
San Bà Diễn và Phổ Đức Tịnh Quang mà Ngài Thiện Tài đồng tử
đã tầm cầu học đạo. (kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới)

- những người thương dân yêu nước, thậm chí quyến luyến một địa
phương, một giòng sông, một ngọn núi... cái thâm tình đó đã
thúc đẩy họ ở lại thế gian mà phò trợ. Đó là những vị thần
bản địa, thần hoàng, thần núi, thần sông... (Kinh Địa Tạng Bồ
Tát bản nguyên có nhắc đến danh sách rất dài danh tính các
vị thần nầy. Ngài Hư Vân cũng kể có vị thần núi, thần cây đã
thọ giới quy y với Ngài)

- những người có nghiệp thiện ác trung hòa không có cõi nào
thu hút mãnh liệt, trong thời gian 49 ngày của thân trung ấm lập
lờ chờ đợi quyết định cõi đầu thai bỗng bị tình quyến
thuộc, lòng tham luyến mồ mả, mong cầu giỗ cúng... mà kẹt
lại.

- trong số người chết thảm khốc như: bị ám sát, tự sát, tai nạn,
chiến tranh, có người bị rơi vào trạng thái đau đớn, sợ hãi khủng
khiếp dày đặc, khiến thần thức bị kẹt cứng vào thảm trạng đó
không tạo cơ hội cho các chủng tử khác đang lưu trữ sâu trong
tàng thức hiện hành được, và cứ thế mà họ chìm đắm trong
trạng thái u mê đó mãi mãi. Có thể hiểu là họ đã hóa sinh
thành Quỷ thần ngay lúc thảm tử, không trải qua giai đoạn thân
trung ấm, nên không có giây phút thấy lại quãng thời quá khứ
để chiêu cảm nghiệp lực nào khác.

2. Tương quan giữa Phật tử và quỷ thần:

- Phật tử chân chính đã quy y Phật thì tuyệt đối không quy y
Thiên Thần Quỷ Vật, dù là bậc Thiên Thần đầy phước báu. (Lời
phát nguyện khi thọ Tam quy)

- Nếu chưa là Phật tử cũng nên ý thức rằng Thiên Thần cũng là
chúng sinh trong lục đạo, khi hưởng hết phước báu lại tiếp
tục quay cuồng trong sáu nẻo luân hồi. Vua Trời Phạm Thiên, Tứ
Đại Thiên Vương... cũng quy y Phật và trở thành những bậc hộ
pháp đắc lực, thường gia hộ những Phật tử tu hành chân chính.

Do đó, chẳng những ta phải từ bỏ tệ trạng sùng bái quỷ thần,
mà dứt khoát không bao giờ cầu cạnh họ ban cho ân huệ hay
quyền lợi gì cả.

Khi đã nhận được quyền lợi của ai thì phải thiếu nợ, để rồi
cuối cùng phải trả nợ cả vốn lẫn lời, mà không phải trong
một kiếp.

Đã dây dưa với họ thì khó mà vuột thoát. (H.T. Thiện Tâm có
kể đến trường hợp một tín nữ cha ông theo phái Ngũ Hành của
Quỷ thần, riêng cô hết lòng muốn tu theo Phật giáo nhưng cuối
cùng cũng bị lôi trở lại với họ. Xem NPTY, chương 7)

3. Thái độ nên có của người Phật tử đối với Quỷ Thần:

- Kính trọng: Là Phật tử ta nên tỏ lòng kính trọng chư Thiện
Thần uy đức thường ủng hộ thế gian, ngay như hạng Quỷ thần
thấp kém đói khổ cũng nên tỏ lòng từ bi lân mẫn thương yêu họ.

- nhưng thận trọng: Ta cũng nên thận trọng đối với chư Quỷ
thần, nếu tự hào là Phật tử mà có thái độ khinh bạc, không
may gặp loại Quỷ thần có uy lực nóng tánh cố chấp thì có
thể bị trừng phạt.

- và không nể sợ: Chư cổ đức thường dạy “đức trọng quỷ thần
kinh”, người Phật tử đức độ luôn luôn được chư Quỷ thần nể
trọng. Ta không gây sự với Quỷ thần thì Quỷ thần chẳng đụng
chạm đến ta.

4. Những điều cần lưu ý trong việc cứu độ thân nhân bạc phước lạc vào cõi Quỷ thần:

- Quỷ thần từ cõi người hóa sinh nên vẫn giữ nguyên ký ức
kiếp người cũ, tình cảm hay thù hận vẫn còn ấp ủ trong tâm,
do đó họ rất mong mỏi được thân nhân nhớ tưởng và cứu giúp
họ.

Nói chung là phần lớn quen cách sống của kiếp người, luôn luôn
tưởng mình còn thân xác thịt nên thường bị ám ảnh bởi cái
khổ đói lạnh. Do đó, nếu được khai thị nhắc nhở cho họ ý
thức rằng đói lạnh là do tâm tưởng không thực có thì nỗi khổ
bức bách nầy sẽ biến mất, họ có thể nhận được phần nào an
lạc.

- Quỷ thần hạng kém uy phước hóa sanh về biên địa, nói chung,
dù sao cũng xếp vào hạng nghiệp lưng chừng hay nghiệp nhẹ. Do
đó, ngay như những cô hồn đói khổ vất vưởng nếu được khai thị,
được quy y, thậm chí chỉ cần nghe tụng nửa câu kệ trong kinh
Hoa Nghiêm thì vẫn có thể phát tâm lành tu tập mà chuyển
nghiệp.

- Chư quỷ thần có uy phước trung bình hộ trì dân gian như thần
bản địa, thần núi, thần sông... khi nghe Phật Pháp rất hoan hỷ
nên thường hay phù hộ kẻ tu hành chân chính, có vị còn hiện
hình xin thọ giới quy y hoặc thọ pháp với chư đạo đức tăng.

Trong “Cảnh đức truyền đăng lục” có kể chuyện thiền sư Nguyên
Khuê truyền giới cho thần núi Ngũ Nhạc, trong “Bá Trượng ngữ
lục” cũng ghi lại câu chuyện của một ông lão, vốn là tỳ kheo
thời Phật quá khứ, vì dạy pháp sai lầm nên bị đọa thành chồn
tinh (súc thần) đã 500 kiếp, nhờ được thiền sư Bá Trượng
thuyết pháp giải đáp khối nghi mà đại ngộ và được giải thoát
kiếp chồn.

HoangMi

Tổng số bài gửi : 7
- + Điểm Đạo Hạnh : 2
Join date : 08/04/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết