Thần chú của Mật Tông

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Thần chú của Mật Tông

Bài gửi by HoangMi on 08/04/12, 10:09 pm

Thần chú của Mật Tông (Phần 1)
27/05/2007 11:13
Kiêm Đạt


Hầu hết kinh điển Mật Tông đều nhấn mạnh rằng: Những mật chú đều là
những chân ngôn của chư Phật và chư Bồ Tát có giá trị nhiếp tâm và
truyền giảng vô lượng. Mật Chú giúp đỡ cho chúng sinh xa lìa tham, sân
si, là những độc hại trong việc tu hành. Việc trì tụng những mật chú
sẽ tiêu trừ các tai ương, giải cứu những ách nạn, đưa con người thoát
khỏi cảnh giới sa đoạ. Thành thử, kiên tâm trì tụng với tất cả tâm
thành, kết quả tốt đẹp không biết đâu lường được.


Kinh Chuẩn Đề Đà Ra Ni của Mật Tông dạy những phương pháp trì tụng và
nói về công năng của việc trì tụng những Chân ngôn. Có đến 10 bộ kinh
dạy về Chân ngôn, từ thấp đến cao, mà trong ứng dụng bất cứ trình độ nào
cũng tu tập được. Khi trì tụng lâu, sẽ được ứng hiện trong mộng
tưởng.
Kinh Chuẩn Đề dạy rằng: "Tu tập vững vàng sẽ tạo mộng lành. Hoặc mộng
thấy chư Phật, Bồ Tát, Thánh Tăng, Thiên Nữ. Hoặc mộng thấy tự thân bay
lên hư không một cách tự tại. Hoặc vượt qua biển lớn, hoặc trôi nổi
trên sông Giang Hà, hay lên lầu các, hoặc lên cây cao hoặc trèo lên núi
tuyết, hoặc chế ngự được voi, sư tử, hoặc thấy nhiều hoa thơm cỏ lạ.
Cũng có thể mộng thấy là vị tu hành, sa môn. Hoặc nuốt bạch vật, nhả ra
hắc vật. Hoặc thâm nhập vào tinh tú, thiên hà...". Trong khi trì
tụng kinh điển này, thường phát ra ánh sáng lạ kỳ, do Phán nhãn mang
lại. Có người thấy lạc vào cõi Tịnh Độ, cảnh giới giải thoát hoàn toàn.
Cũng có người thấy được kiếp trước của mình.
Nội dungBộ kinh trên có giành phần lớn để nói về các Thần Chú: bản
văn Thần Chú và công năng của Thần Chú. Thần Chú không sử dụng tùy
tiện được. Phải có đức giác ngộ mới đọc Thần Chú có hiệu quả. Mật
Tông nói về trường hợp nhiều đạo sĩ dùng những Thần Chú không đúng hướng
gây tác hại: chẳng những không đạt được kết quả theo ý muốn, mà còn gây
thêm những nguy hiểm khôn lường được.

Nội dung các Thần chú này được phân chia ra 9 phẩm. Mỗi phẩm có sức nhiếp phục và sở cầu khác nhau:

Nội dung 3 phẩm đầu

Hạ Phẩm: nếu thành tựu hạ phẩm của Thần Chú, thì có thể năng nhiếp
phục tất cả tứ chúng, phàm có sở cầu điều gì thì đạt được, sai khiến
được nhiều hạng, kể cả Thiên Long cũng thuần phục. Những Thần Chú này
lại còn có thể hàng phục được 45 loại trong các "trùng thú" và "quỷ
mị".

Trung Phẩm: Khi thành tựu được việc dùng Thần Chú của Trung Phẩm, sẽ
có công năng sai khiến được tất cả Thiên Long, Bát Bộ, khai mở những
"bảo tàng" dấu kín. Cũng có thể đi vào trong Tu La Cung, Long Cung...
bất cứ trong trường hợp nào.

Thượng Phẩm: Nếu thành tựu được phần Thượng Phẩm, sẽ có được những khả
năng phi thường: hoặc dùng phép khinh thân để chu du khắp nơi, cũng có
thể dùng đến thuật "tàng hình" để tránh tai biến.

Nội dung 3 phẩm giữa

Hạ phẩm: Nếu thành tựu hạ phẩm của phần này (Trung Độ) sẽ điều hành được
nhiều cảnh giới, tái sinh trong vô lượng kiếp, phúc huệ chiếu sáng
trong 3 cõi, hàng phục chúng ma.

Trung phẩm: Nếu thành tự phẩm này, thì có sức thần thông qua lại các
thế giới khác, có khả năng chuyển hoá Luân Vương, trụ thọ trong nhiều
kiếp sau này.

Thượng phẩm: Nếu thành tựu phẩm này, sẽ hiệu chứng được nhiều phép lạ,
từ Sơ Địa Bồ Tát trở lên.Trung độ là trình độ khó thành; chỉ những bậc
cao tăng nhiều kiếp mới nhiếp phục được 3 phẩm này.

Nội dung 3 phẩm cuối

Hạ phẩm: Nếu thành tự phẩm này, sẽ đạt được Đệ Ngũ Địa Bồ Tát trở nên.

Trung phẩm: Nếu thành tựu phẩm này sẽ đạt được từ Đệ Bát BồTát Địa trở lên.

Thượng phẩm: Nếu thành tựu phẩm này, thì Tam Mật sẽ biến thành Tam
Thân. Trong cảnh giới hiện tại thì có thể chứng quả "Vô Thượng Bồ
Đề".


Ứng dụng những Mật Chú

Những nhà tu hành Mật Tông dùng những Mật Chú trong những trường hợp cần
thiết nhất và cũng hạn chế nhất để tránh những tác hại khác. Một
trong những loại Mật Chú quan trọng và thông dụng là Mật Chú Đà Ra Ni
(Dharani). Theo nguyên nghĩa thì Đà Ra Ni là bảo tồn, gìn giữ, chống
lại những lôi cuốn khác bất cứ từ đâu tới. Những Mật Chú này dùng để
khống chế vọng tưởng và vọng động. Trong một giá trị khác, Mật Chú Đà
Ra Ni sẽ phát huy đạo tâm của hành giả đứng trước những thử thách
nghiêm trọng. Tà ma, ngoại đạo đều bị Mật Chú Đà Ra Ni chế ngự ngay từ
bước đầu. Dùng Mật Chú không thể khinh thường và thiếu cẩn trọng. Chỉ
trong những trường hợp khổn cùng, cấp bách, không thể thoát khỏi tai
kiếp thì mới đọc lên.

Mật Chú Đà Ra Ni còn được gọi là "chân ngôn" hay "chân kinh" tức là
những câu nói ngắn nhưng rất vi diệu, chân thật, "bất khả tư nghị" của
chư Phật hay chư Bồ Tát. Mật Chú không thể giải nghĩa được hay lý luận
được. Những buổi lễ quan trọng nhất của Mật Tông mới được dùng những Mật
Chú này. Công dụng chính là đưa những sức huyền diệu, anh linh của vũ
trụ đi vào trong nội tâm của con người. Mật Chú cũng có thể tiêu trừ
những bệnh khổ do Tứ Đại gây ra. Những bệnh do Ngũ uẩn, hay do quỷ thần
gieo rắc cũng có thể giải cứu bằng Mật Chú được. Cũng như Đàn Tràng (hay
Đàn Pháp) (Mandala), Mật Chú có công dụng vô biên, khó lường được.
Nhiều người coi thường Mật Chú và Đàn Tràng, cho nên khó giải thoát.
Hiển Mật Viên Thông có chép rằng: "Ba đời của đức Như lai, chưa hề có vị
Phật nào không theo Đàn Pháp mà thành Phật Đạo".

Lời dạy này mang hai ý nghĩa: (a) Mật Chú và Đàn Pháp vốn rất huyền
diệu (b) Chỉ dùng đến hai loại này trong trường hợp cần thiết nhất mà
thôi.Giá trị của Mật Chú Đà Ra Ni không thể lường được. Chẳng hạn như
một cao tăng tụng Mật Chú với tất cả lòng thành của mình thì sẽ tiêu trừ
những nghiệp chướng rừng vướng mắc vào nội tâm hay từng gây tai họa lớn
lao. Sức tiêu trừ này khó hình dung được, nhưng giải toả được những
nguy hiểm do tha nhân tạo nên.

Những cao tăng Tây Tạng ít khi nói đến những Mật Chú. Theo họ, một
giới tử nào vọng động trong việc dùng Mật Chú, tưởng là cứu cánh tu
hành, sẽ bỏ mọi khả năng tu tập chính của mình để học Thần Chú. Mật
Chú chỉ được dùng như là cẩm nang tối hậu chỉ được mở ra thực hiện
trong một thời điểm cần thiết nhất. Một giới tử sau khi được Điểm Đạo
hay Quán Đỉnh thì được nhắc nhở điều này.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm trong phần nói về công năng của những loại Thần Chú
của Kim Cang Thừa (Tantra) có đoạn viết:- "Mật Chú của chư Phật vốn
là phép bí mật. Chỉ có đức Phật với Phật tự biết với nhau mà thôi; các
vị Thánh cũng không thể nào thông đạt về Chú được. Chỉ trì tụng là diệt
được tội lỗi, nhanh chóng đạt được Thánh Vị" (Phẩm Chú Hạnh).
Trong một đoạn khác có viết: "Thần Chú là mật ấn của chư Phật: Những vị
Phật và Phật truyền cho nhau, người khác trong cảnh giới nào cũng
không thể nào thông hiểu được..."

Trong Hiển Thủ Bát Nhã Sớ viết: " Chú là Pháp môn bí mật của chư Phật,
không thể nào thấu hiệu được nhân vị của những lời Chú". Viễn Công Niết
Bàn Sớ khi luận về Thần Chú cũng viết: "Chân Ngôn chưa chắc là chuyên
ngữ của người Thiên Trúc. Nếu đem ra phiên dịch thì lại không hiểu nổi,
vì lẽ đó cho nên không thể nào phiên giải được...".

Thiên Thai Chỉ Quán của Thiên Thai Tông cũng viết về các Thần Chú như
sau: "Chỉ có bậc Thánh Thượng thì mới có thể nói đến (giải lý đến) 2
pháp: Mật và Hiển. Những kẻ phàm nhân chỉ có thể xưng tán được những lời
kinh trong Hiển Giáo; còn về Mật Giáo thì không giải thích được. Đà Ra
Ni, nhân vị của Thánh Hiền không thể nào hiểu giải được, chỉ có thể
tin mà thọ trì mà thôi. Trì Chú thì có thể diệt được mọi nghiệp chướng,
kết tựu được phước đức". Theo những cao tăng của Mật Giáo, những Mật
Chú (Mantras) là Viên Mãn, nếu giải thích ra chỉ là phiến diện, có thể
sai lầm nữa. Thành thử không nên tìm cách để giải thích. Những kinh
sách cho rằng: đây là guyên nghĩa của những câu Thần Chú chỉ là ngụy
ngôn.

Mật nghĩa chỉ là "bất khả tư nghị". Trong Pháp Hoa Sao Sớ có đoạn nêu
rõ rằng: "Về Bí Pháp của chư Phật, thì không thể nào hiểu được ý nghĩa,
cho nên được gọi là Mật ngôn". Bát Nhã Tâm Kinh viết: "Tổng trì cũng như
loại thuốc thần, như Cam Lộ, uống vào thì lành bệnh, nhưng khi phân
tích trong đó có gì, là điều sai lầm. Tuy là mật ngôn, nhưng công dụng,
giá trị của những lời Thần Chú này thật bao la".

Theo Đà Ra Ni Kinh thì: "Thần Chú vốn là tối thắng, có thể giải trừ
được tội lỗi của chúng sinh, giải thoát được sinh tử luân hồi, chứng quả
Niết Bàn, an lạc pháp thân...".

Khi tụng những câu Thần Chú, phải chú ý đến toạ bộ. Chẳng hạn như trì
tụng Đại Tam Muội Ấn thì: "Lấy hai tay ngửa ra, rồi tay hữu để lên
trên tay tả, hai đầu ngón cái giáp lại với nhau, để ngang dưới rốn".
Thực hiện việc trì tụng này, kết quả không lường được: Ấn này có thể
diệt được tất cả cuồng loại, vọng niệm, điên đảo, tư duy tạp nhiễm. Còn
khi chấp thủ về Kim Cang Ấn Quyền thì kết ấn như sau đây: "Lấy ngón
cái để trong lòng bàn tay bấm tại đốt vô danh chỉ giáplòng bàn tay, rồi
nắm chặt; sau đó tay phải cầm chuỗi ký số, miệng tụng: "Tịnh pháp giới
chân ngôn" (108 biến).

Ấn này trừ được nội ngoại chướng hiện ra hay nhiễm phải; thực hành
đúng đắn thì thành tựu tất cả công đức. Về Chuẩn Đề Chú thì kết ấn
như sau: "Sau khi đảnh lễ (3 lạy) xong, thì hành giả ngồi kiết già.
Lấy ngón tay áp út và ngón út bên mặt và bên trái xỏ lộn với nhau vào
trong hai lòng bàn tay; dựng hai ngón tay giữa thẳng lên, rồi co hai
ngón tay trỏ mà vịn vào lóng đầu của hai ngón giữa; còn hai ngón tay
cái thì đè lên lóng giữa của ngón áp út bên mặt. Để ấn này ngang ngực.

Sau đó chí tâm tưng 108 lần câu chú "Chuẩn Đề" và chú "Đại Luân Nhất
Tự" như sau: "Nam Nô Tát Đa Nẫm, Tam Miệu Tam Bồ Đề, Cu Chi Nẫm, Đát
Điệt Tha. Án Chủ Lệ, Chủ Lệ, Chuẩn Đề, Ta Bà Ha - Bộ Lâm."
Có thể trì tụng nhiều hơn nữa. Khi niệm số đã ấn định, muốn nghỉ thì
xả ấn lên trên đỉnh, kế đó dùng tay mặt kiết ấn Kim Cang Quyền mà ấn
theo thứ tự 5 vị trí như sau: 1) Trên đảnh đầu 2) Nơi vai bên trái 3) Ở
vai bên mặt 4) Tại ngang ngực 5) Nơi yết hầu

(Còn tiếp)

HoangMi

Tổng số bài gửi : 7
- + Điểm Đạo Hạnh : 2
Join date : 08/04/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thần chú của Mật Tông

Bài gửi by HoangMi on 08/04/12, 10:10 pm

Hai mặt của thực tại (Phần 2 – Tiếp theo và hết)
Monday, 10. August 2009, 06:39
giác ngộ, tâm pháp, giáo dục
Như vậy, nếu hành trì đúng theo Giáo Huấn của Ðức Phật, hướng tâm quán
chiếu trở lại vào bên trong chính mình, ta sẽ tiến đạt đến một mức độ
hiểu biết hoàn toàn mới mẻ. Khi ta thấy một vật, không có vật gì. Khi ta
nghe một âm thanh, không có tiếng động nào. Trong khi hửi ta có thể nói
là không có mùi. Tất cả những giác quan hiển nhiên là có hiện hữu,
nhưng tất cả đều là không, không chứa đựng gì là ổn định. Nó chỉ là
những tri giác, phát sanh rồi hoại diệt, sanh rồi diệt.

Lá Cờ Rỗng Không

Có lần Sư đọc một quyển sách về Thiền Tông. Quý Sư biết rằng trong pháp
hành của tông phái nầy, vị Thiền Sư không giảng giải dông dài. Thí dụ
như trong thời thiền tọa mà một thiền sinh ngủ gục, vị Thầy cầm thiền
trượng trong tay đi ngang qua và "Quắc!", cây trượng đập ngay vào lưng.
Người thiền sinh lầm lỗi bị đập liền cảm tạ Thầy để bày tỏ lòng tri ân
sâu xa của mình. Trong pháp hành thiền nầy thiền sinh được dạy phải biết
ơn tất cả những gì tạo cho mình những cảm giác khả dĩ là cơ hội để phát
triển.

Ngày kia một nhóm tỳ khưu tụ hội trong giảng đường. Ngoài sân chùa một
lá cờ bay phất phới trước gió, làm đầu đề bàn thảo giữa hai nhà sư: Vì
sao lá cờ thật sự bay phất phơ trong gió. Một thầy cho rằng vì gió. Thầy
kia cãi lại, nói là vì cờ. Hai thầy tranh luận, cố bênh vực quan kiến
hẹp hòi của mình và không thể đồng ý với nhau. Cứ thế họ có thể bàn cãi
đến chết.

Nhưng vị Thiền Sư can thiệp và dạy: "Cả hai chúng con đều sai. Lối hiểu biết đúng là không có cờ, và không có gió".

Ðó là pháp hành. Ta thực hành không phải để được bất cứ gì, không phải
để có cờ, và không phải để có gió. Nếu có một lá cờ ắt có một luồng gió,
nếu có một ngọn gió ắt có một lá cờ.

Quý Sư phải quán tưởng và suy niệm tận tường cho đến khi cái thấy của
mình điều hợp, đúng theo Chân Lý. Quán suy cặn kẽ sẽ thấy rằng không có
gì còn lại. Nó là rỗng không -- hư vô. Rỗng không, không có cờ. Rỗng
không, không có gió. Trong Hư Vô to lớn không có cờ và không có gió.
Không sanh, không già, không bệnh, không chết. Sự hiểu biết có tính chất
quy ước của chúng ta về lá cờ và ngọn gió chỉ là khái niệm. Trong thực
tế không có gì. Thế thôi! Không có gì khác hơn là nhãn hiệu rỗng không.

Nếu thực hành theo đường lối nầy chúng ta sẽ đạt đến mức độ có thể thấy
trọn vẹn toàn bộ, và tất cả những vấn đề khó khăn của chúng ta sẽ chấm
dứt. Trong cái Hư Vô to lớn ấy Thần Chết không bao giờ tìm thấy ta;
không có gì để lão, bệnh, tử, bám đeo dính theo. Khi chúng ta thấy và
hiểu biết điều hòa, hợp đúng với Chân Lý -- tức có chánh kiến -- thì chỉ
còn trạng thái rỗng không to lớn. Ðây là nơi mà không còn "chúng ta",
không còn "chúng nó", không còn "tự ngã", không có gì hết.

Khu Rừng Giác Quan

Thế gian và đường lối vô cùng tận của thế gian triền miên diễn tiến. Nếu
chúng ta cố tìm hiểu nó, công phu ấy chỉ đưa ta đến hỗn loạn và rối
trí. Tuy nhiên, nếu ta sáng suốt quán chiếu thế gian một cách rõ ràng
thì trí tuệ thật sự phát sanh. Chính Ðức Phật đã thấu hiểu đường lối của
thế gian. Ngài có khả năng điều ngự và hướng dẫn rộng lớn vô biên vì
kiến thức về trần thế của Ngài rất dồi dào phong phú. Xuyên qua giai
đoạn chuyển tánh, từ trí thông minh sáng suốt tại thế có tính cách phàm
tục, Ngài đã thấm nhuần, ăn sâu vào và đạt đến trí tuệ siêu thế, phi
trần tục, và sự biến đổi nầy làm cho Ngài là Vô Thượng Sĩ, bậc thượng sĩ
không ai sánh bằng.

Như vậy, nếu hành trì đúng theo Giáo Huấn của Ðức Phật, hướng tâm quán
chiếu trở lại vào bên trong chính mình, ta sẽ tiến đạt đến một mức độ
hiểu biết hoàn toàn mới mẻ. Khi ta thấy một vật, không có vật gì. Khi ta
nghe một âm thanh, không có tiếng động nào. Trong khi hửi ta có thể nói
là không có mùi. Tất cả những giác quan hiển nhiên là có hiện hữu,
nhưng tất cả đều là không, không chứa đựng gì là ổn định. Nó chỉ là
những tri giác, phát sanh rồi hoại diệt, sanh rồi diệt.

Nếu ta thấu hiểu sự vật đúng với thực tại thì giác quan không có gì là
thực chất mà chỉ là những tri giác, đến rồi đi. Trong thực tế không có
"một cái gì". Nếu không có "một cái gì" tức nhiên không có "chúng ta" và
"chúng nó". Nếu không có "chúng ta" xem như một con người, ắt không có
gì "của ta". Ðó là phương cách để chấm dứt đau khổ. Không có bất luận ai
để thâu nhận sự khổ thì ai đau khổ?

Khi đau khổ phát sanh, ta bám níu vào trạng thái đau khổ và do đó, phải
thật sự chịu đau khổ. Cùng thế ấy, khi hạnh phúc phát sanh ta bám níu
vào hạnh phúc và do đó, chứng nghiệm lạc thú. Bám níu vào những cảm giác
như vậy làm khơi dậy khái niệm về "một cái ta", về "tự ngã" và những tư
tưởng về "chúng ta", "chúng nó" liên tục phát hiện. Ðây là đầu dây mối
nhợ cho tất cả, bắt đầu mang ta đi trong một vòng lẩn quẩn vô cùng tận.

Do vậy, chúng ta đến đây hành thiền và sống điều hòa, hợp theo Giáo
Pháp. Chúng ta ly gia cắt ái, xa lìa nhà cửa để sống giữa rừng, tâm đượm
nhuần trạng thái thanh bình. Chúng ta ra đi để sống an lạc với chúng ta
chớ không phải vì sợ sệt, cũng không phải là đào tẩu. Tuy nhiên, có
người vào rừng sống rồi lại bám níu vào cảnh rừng núi, đâm ra luyến ái
cuộc sống trong rừng; giống như người quen sống ở thành thị bám níu vào
cuộc sống đô thị. Họ lạc lối trong rừng và họ lạc lối trong thành phố.

Ðức Phật ca ngợi cuộc sống giữa rừng sâu bởi vì trạng thái đơn độc của
thân và tâm thích hợp thuận lợi cho pháp hành nhằm giải thoát. Nhưng
Ngài không muốn cho ta phải tùy thuộc vào lối sống trong rừng hay phải
dính mắc, kẹt cứng trong trạng thái vắng lặng thanh bình. Chúng ta đến
đây thực hành để khai triển trí tuệ. Nơi đây, giữa rừng sâu, ta có thể
gieo trồng và vun quén đắp bồi hột giống trí tuệ.

Sống trong cảnh hỗn loạn và phiền nhiễu, những hột giống ấy khó mà sanh
sôi nảy nở, nhưng một khi đã học làm quen với lối sống trong rừng ta có
thể trở lại sống an vui với thành phố, cùng với tất cả những khuấy động
của chốn phồn hoa đô thị. Học sống trong rừng có nghĩa là khơi động,
phát triển, làm cho trí tuệ tăng trưởng. Trí tuệ ấy, ta có thể áp dụng
vào bất cứ nơi nào.

Khi giác quan của chúng ta bị khuấy động ta bị kích thích, bồn chồn, và
giác quan trở thành kẻ thù nghịch. Nó thù nghịch với ta bởi vì chúng ta
còn điên cuồng. Chúng ta không có trí tuệ để đối phó với nó. Ðúng ra nó
là thầy của ta, nhưng vì ta còn si mê nên không thấy như vậy. Ta quen
sống trong thành phố và không bao giờ nghĩ rằng giác quan của mình có
thể dạy mình. Ngày nào mà trí tuệ chưa thật sự phát sanh chúng ta vẫn
còn thấy giác quan và những đối tượng của nó (tức lục căn và lục trần)
là kẻ thù. Một khi trí tuệ phát hiện, lục căn và trần cảnh không còn là
thù nghịch nữa mà trở thành con đường chính, đưa ta vào tuệ minh sát và
Chánh Kiến.

Một thí dụ hiển hiện là mấy con gà rừng ở quanh đây. Tất cả quý vị đều
biết rằng gà rừng rất sợ người ta. Vậy mà từ ngày Sư về đây, ở trong
rừng nầy Sư có thể dạy chúng nó học và Sư cũng học của chúng nữa. Lần nọ
Sư rải lúa cho chúng nó ăn. Thoạt tiên chúng nó rất nhút nhát và không
dám đến gần mấy hột lúa. Tuy nhiên, sau một thời gian, chúng nó quen đến
tìm ăn và còn trông chờ Sư cho ăn là khác. Quý Sư thấy không? Có một
vài điều ở đây mà ta có thể học hỏi. Lúc ban đầu mấy con gà rừng e sợ vì
nhận thấy có sự hiểm nguy trong những hột lúa, chúng xem lúa là kẻ thù.
Trong thực tế, không có hiểm họa trong lúa, nhưng chúng nó không biết
rằng lúa chỉ là vật thực, và chúng nó sợ. Khi cuối cùng, tự mình thấy
rằng không có gì phải sợ, chúng có thể đến ăn mà không có gì hại.

Những con gà rừng học hỏi như vậy một cách tự nhiên. Sống ở đây, trong
khu rừng này, ta cũng học hỏi cùng một thế ấy. Lúc ban sơ, ta nghĩ rằng
giác quan của ta là vấn đề tạo khó khăn, và bởi vì không biết xử dụng nó
một cách thích nghi nên ta gặp rất nhiều phiền toái. Tuy nhiên, nhờ
kinh nghiệm của pháp hành, ta học được lối nhìn chúng nó thích ứng với
Chân Lý. Chúng ta học cách xử dụng giác quan giống như mấy con gà xử
dụng hột lúa. Chừng đó giác quan không còn là thù nghịch với ta nữa, và
bao nhiêu vấn đề khó khăn đều tan biến.

Giờ phút nào mà chúng ta còn suy tư, quán xét, và hiểu biết lầm lạc thì
những sự vật ấy còn là thù nghịch với ta. Nhưng khi ta bắt đầu quán xét
chân chánh thì những gì kinh nghiệm sẽ đưa ta đến trí tuệ và hiểu biết
chân chánh -- giống như mấy con gà cuối cùng hiểu biết chân chánh. Theo
đường lối nầy ta có thể nói rằng mấy con gà thực hành "thiền minh sát".
Chúng nó hiểu biết thích ứng với Chân Lý, đó là tuệ minh sát của chúng.

Trong pháp hành nầy lục căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, là những
công cụ mà nếu xử dụng thích nghi, sẽ soi sáng Giáo Pháp cho chúng ta.
Ðó là điều mà tất cả những ai hành thiền phải quán niệm. Nếu không nhận
thức rõ ràng, chúng ta vẫn còn sống mãi trong tình trạng mâu thuẫn và
xung đột.

Như vậy, đã sống trong cảnh tĩnh mịch của rừng thiêng chúng ta nên tiếp
tục phát triển những cảm giác vi tế và chuẩn bị dọn đất nhằm canh tác
trí tuệ. Quý Sư đừng nghĩ rằng mình đã thâu hoạch một vài trạng thái tâm
thanh bình an lạc giữa khu rừng vắng, và như thế là đủ. Chớ nên yên trí
ngừng nghỉ chỉ vì đã hưởng được bao nhiêu đó! Quý Sư hãy ghi nhớ nằm
lòng rằng chúng ta đến đây để gieo trồng và vun quén hột giống trí tuệ.

Khi trí tuệ chín mùi và chúng ta bắt đầu hiểu biết thích ứng với Chân
Lý, ta sẽ không còn bị lôi kéo lên xuống nữa. Thông thường, khi vui ta
xử sự khác và khi buồn chúng ta có một lối cư xử khác. Ưa thích, chúng
ta phấn khởi, lên tinh thần. Ghét bỏ, chúng ta bực dọc, buồn phiền, giảm
suy ý chí. Theo cung cách ấy chúng ta vẫn còn xung đột với kẻ thù.

Khi sự vật không còn đối nghịch với ta nó sẽ trở thành ổn định và quân
bình. Sẽ không còn lên xuống hoặc thấp cao. Chúng ta thấu triệt những sự
vật của thế gian và hiểu biết rằng đường lối của chúng là vậy. Nó chỉ
là thế gian pháp (atthalokadhamma, tám pháp thế gian: được và thua, danh
thơm và tiếng xấu, ca tụng và khiển trách, hạnh phúc và đau khổ).

"Thế gian pháp" biến thành "Con Ðường" -- tức Bát Chánh Ðạo. "Thế gian
pháp" có tám. "Con Ðường" có tám. Nơi nào có "thế gian pháp" cũng có
"Con Ðường". Khi chúng ta sống một cách sáng suốt rõ ràng tất cả những
kinh nghiệm tại thế của ta trở thành pháp hành "Bát Chánh Ðạo". Nếu
không sáng suốt rõ ràng, "thế gian pháp" sẽ lấn áp trội lên và chúng ta
tách rời, lìa xa "Con Ðường". Khi Chánh Kiến phát sanh, trạng thái giải
thoát ra khỏi mọi đau khổ hiện khởi ngay tại đây, trước mắt ta. Quý Sư
sẽ không tìm được giải thoát bằng cách chạy rong chạy rỗi nhìn quanh nơi
nào khác!

Như vậy không nên gấp rút và quá sức cố gắng hoặc thực hành hấp tấp. Hãy
để cho công phu hành thiền của mình diễn tiến thong thả, nhẹ nhàng, và
đều đặn tiến dần từ bước một. Còn về trạng thái an lạc, nếu cảm nghe an
lạc, hãy chấp nhận như vậy. Ðó là bản chất của tâm. Phải tìm pháp hành
của ta và kiên trì giữ vững.

Có thể trí tuệ không phát sanh! Trước kia Sư thường suy tư về pháp hành,
và khi trí tuệ không phát sanh Sư cố ép cho nó đến. Nhưng làm như vậy
không có kết quả, không có gì thay đổi. Lúc ấy, sau khi thận trọng suy
xét, Sư nhận thức rằng không thể quán chiếu cái gì mà chính mình không
có. Vậy thì tốt hơn phải làm thế nào? Tốt hơn hết, chỉ thản nhiên chăm
chú hành thiền, hành thiền với tâm xả. Nếu không có gì làm cho ta lo âu
thì không có gì để ta cứu chữa. Nếu không có vấn đề thì không có gì để
ta cố gắng giải quyết. Khi có vấn đề, đó chính là lúc mà ta phải giải
quyết, ngay vào lúc ấy!

Không cần phải đi đâu tìm kiếm cái gì đặc biệt, chỉ sống bình thường,
nhưng hiểu biết tâm ta ở đâu! Sống với Chánh Niệm và hiểu biết rõ ràng.
Hãy để cho trí tuệ hướng dẫn ta, không nên dể duôi chểnh mảng, hờ hững
lăn trôi theo những cơn buồn vui tùy hứng. Hãy chuyên cần và giác tỉnh!

Nếu không có gì. Tốt! Khi có gì xảy diễn, hãy quán chiếu và suy niệm.

Nhập Vào Trung Tâm

Ta thử quan sát con nhện. Nhện giăng tơ, làm thành một màng lưới, rồi
ngồi lại ở giữa, im lìm, bất động. Sau đó, một con ruồi bay đến, đáp
lên, và mắc vào lưới nhện. Vừa khi ruồi đụng đến và làm rung chuyển lưới
thì "phụp!" nhện phóng nhanh tới và quấn chặt. Ruồi bị giữ lại đó. Nhện
quay về trung tâm màng lưới, thâu mình vào, im lặng. Quan sát một con
nhện như vậy có thể khai triển trí tuệ. Hệ thống giác quan của ta có cái
tâm ở giữa và mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý bao quanh. Khi một giác
quan bị khơi động, thí dụ như có hình thể tiếp xúc với mắt, thì nó rung
động và chạy đến tâm. Tâm là cái gì hay biết -- ở đây là biết hình thể.
Chỉ bấy nhiêu cũng đủ làm cho trí tuệ phát sanh. Giản dị như vậy!

Giống như con nhện trên màng lưới của nó, ta phải giữ mình, thu thúc lục
căn. Vừa khi nhện hay biết có ruồi chạm vào lưới, tức thì nó nhanh
chóng phóng tới chụp và quấn chặt, rồi quay về trung tâm trở lại. Không
có gì khác biệt với tâm ta. "Nhập vào trung tâm" có nghĩa là sống với
Chánh Niệm, ghi nhận và hay biết rõ ràng, luôn luôn giác tỉnh, làm tất
cả mọi việc một cách thỏa đáng và chính xác -- đó là trung tâm của chúng
ta. Thật sự không phải làm gì nhiều, chỉ thận trọng sống như vậy. Nhưng
nói thế không có nghĩa là chúng ta sống buông lung, không chuyên cần,
nghĩ rằng, "không cần thiền tọa hoặc thiền hành", hay quên đi, gác qua
một bên pháp hành. Chúng ta không thể bất cẩn. Phải thận trọng, luôn
luôn giác tỉnh, y như con nhện đứng rình để chụp ruồi làm vật thực.

Ðó là tất cả những gì ta cần phải biết: ngồi lại và suy niệm về con
nhện. Chỉ làm thế thôi, trí tuệ có thể tự nhiên phát hiện. Tâm ta giống
như con nhện. Những cảm tưởng giống như ruồi, muỗi và những loại côn
trùng khác nhau. Tất cả chỉ có bấy nhiêu! Giác quan bao trùm và luôn
luôn khơi động tâm. Khi một giác quan tiếp xúc với đối tượng, nó lập tức
chạy đến tâm. Tâm quán chiếu, suy xét tận tường rồi nhập trở lại vào
trung tâm. Ta sống an trú như vậy -- giác tỉnh, hành động chính xác và
luôn luôn giữ chánh niệm, hay biết với trí tuệ. Chỉ bấy nhiêu, và pháp
hành của ta hoàn thành viên mãn.

Ðiểm nầy rất quan trọng. Chúng ta không nhất thiết phải ngồi thiền suốt
ngày suốt đêm, hay là phải đi kinh hành suốt đêm suốt ngày. Nếu quan
niệm pháp hành là vậy ta thật sự tạo khó khăn cho mình. Phải làm điều
nào mà mình có thể làm được, lượng sức dẻo dai và năng lực của mình và
xử dụng khả năng của cơ thể trong mức độ thích nghi.

Ðiều rất quan trọng là hiểu biết cái tâm và các giác quan. Thấu hiểu nó
đến như thế nào và thấu hiểu nó đi như thế nào. Khởi sanh như thế nào và
hoại diệt như thế nào. Hãy thấu hiểu tận tường. Trong ngôn ngữ của Giáo
Pháp ta có thể nói rằng giống y như lưới nhện bao bắt ruồi muỗi và
những loại côn trùng khác nhau, tâm cột trói giác quan bằng Vô Thường,
Khổ, Vô Ngã. Rồi những giác quan ấy đi về đâu? Ta giữ nó lại để làm vật
thực, tồn trữ nó vào kho để làm chất liệu dinh dưỡng -- chất liệu để
quán niệm nhằm nuôi dưỡng trí tuệ. Ðó là chất dinh dưỡng đối với người
hay biết và thấu hiểu.

Biết rằng những sự vật ấy là vô thường, dính liền với đau khổ và không
có gì gọi là "ta" thì phải là điên cuồng ta mới chạy theo chúng! Nếu
không nhận thức rõ ràng như vậy ắt ta phải đau khổ. Khi đã quan sát tận
tường và thấy rằng những sự vật ấy quả thật là vô thường thì dầu nó có
vẻ như đáng cho ta chạy theo, thật sự nó không đáng. Tại sao ta muốn làm
gì trong khi bản chất của nó là đau đớn và sầu khổ? Nó không phải của
ta, không có thực chất, không có gì thuộc về của ta. Như vậy tại sao ta
chạy theo tìm nó làm gì? Tất cả mọi vấn đề khó khăn đều chấm dứt nơi
đây. Còn đâu khác để ta chấm dứt nó?

Chỉ nhìn rõ con nhện và quay cái nhìn vào bên trong mình, hướng cái nhìn
trở lại vào trong. Ta sẽ thấy rằng hai hình ảnh đều giống nhau y hệt.
Khi cái tâm đã thấy Vô Thường, Khổ, Vô Ngã thì nó buông bỏ tất cả và tự
phóng thích. Nó không còn bám níu vào đau khổ hay hạnh phúc. Ðó là chất
liệu dinh dưỡng cho tâm linh người có pháp hành, người thật sự đã tự rèn
luyện. Tất cả chỉ có bấy nhiêu, thật giản dị! Ta không cần chạy tìm nơi
nào khác. Như vậy bất luận việc gì mà ta đang làm, đặt tâm ở ngay tại
đó. Không cần phải rầm rộ và phiền nhiễu. Làm như vậy đà tinh tấn và
năng lực của pháp hành sẽ tiếp tục tăng cường và trở nên thuần thục.

Tẩu Thoát

Năng lực của pháp hành nầy đưa ta ra khỏi vòng quanh sanh và tử. Ta mãi
còn thênh thang trong vòng lẩn quẩn nầy vì vẫn còn ham muốn và khát
khao. Chúng ta không còn lầm lạc trong những hành động bất thiện hay vi
phạm giới luật, nhưng được như vậy chỉ có nghĩa là chúng ta sống điều
hợp thuận theo Giới Luật của Giáo Pháp: thí dụ như có người thỉnh chúng
ta tụng kinh để cho tất cả chúng sanh đừng xa lìa những sự vật được
thương yêu quý mến. Quý Sư hãy suy nghĩ lại xem! Quả thật là trẻ con. Ðó
là đường lối của người thế gian, vẫn còn chưa có thể buông bỏ. Ðó là
bản chất tham ái của con người, khát khao ham muốn những gì khác hơn là
cái mà họ có: họ muốn được trường thọ, họ mong mỏi sẽ không chết hoặc
không bệnh hoạn. Ðó là những gì mà con người mong mỏi và thèm khát. Rồi
khi họ nghe nói rằng bất luận ham muốn nào mà không được thỏa mãn sẽ gây
đau khổ thì họ đuối lý. Họ có thể nói gì? Không nói gì được, bởi vì đó
là Chân Lý.

Khi đề cập đến tham ái ta biết rằng tất cả mọi người đều có lòng tham và
muốn cho tham vọng của mình được thỏa mãn. Nhưng không có ai khứng chịu
dừng bước, không ai muốn tẩu thoát. Do đó phải làm cho pháp hành của
chúng ta ngày càng tế nhị. Những ai thực hành một cách kiên trì, không
sai lệch hay chểnh mảng, sống cuộc đời hiền hòa, thu thúc, và luôn luôn
chuyên cần tinh tấn, những vị ấy sẽ thấu triệt. Bất cứ gì phát sanh, các
Ngài luôn luôn vững chắc không lay chuyển.
Người dịch: Sunanda Phạm Kim Khánh và Sumana Lê Thị Sương
Theo: Những lời dạy của Ngài Ajahn Chah










__________________

HoangMi

Tổng số bài gửi : 7
- + Điểm Đạo Hạnh : 2
Join date : 08/04/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết