Đạt ma tổ sư thiền

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Đạt ma tổ sư thiền

Bài gửi by votam on 09/04/12, 08:17 pm

"Đạt Ma Tổ Sư Thiền" hay là Thiền Tông Trung Hoa là môn thiền do Tổ sư
Bồ Đề Đạt Ma khai sáng và chuyển hóa từ Thiền Tông Ấn Độ. Thiền Tông Ấn
Độ hay còn gọi là Thiền Tam Muội, cách truyền dạy dựa vào kinh sách
Phật. Phật Tổ Thích Ca là vị đầu tiên thực hiện và chỉ dạy phép Thiền
Tam Muội, cũng như những pháp môn của các tông phái Phật giáo khác. Giai
thoại "Niêm Hoa Vi Tiếu" trong lịch sử thiền học có giải thích:
"Trong lúc thuyết pháp cho các đệ tử, Phật Tổ đưa cao lên một cành hoa
sen (Niêm hoa). Hầu hết mọi người đều ngơ ngác, không hiểu việc gì. Ngài
Ca Diếp là người duy nhất cảm nhận được thâm ý của Phật Tổ lúc bấy giờ.
Lập tức đáp lại với Phật Tổ bằng một nụ cười thông cảm (vi tiếu)"
Thiền Tông Ấn Độ được Đức Phật Tổ tâm truyền cho ngài Ca Diếp từ đó, và
ngài Ca Diếp được nhận truyền y bát, kế thừa nhiệm vụ Tổ sư đời thứ hai.
Dần dần, các kế tổ được truyền thừa y bát đến vị tổ sư thứ hai mươi tám
Bồ Đề Đạt Ma, cũng là vị tổ sư sau cùng của Thiền Tông Ấn Độ.

NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH

Bồ Đề Đạt Ma là vị tổ sư Thiền Tông Ấn Độ đời thứ hai mươi tám lúc bấy
giờ xã hội Ấn Độ đang bị ảnh hưởng lâu đời của Bà La Môn Giáo, và tín
ngưỡing của dân Ấn, hầu hết thiên nhiều về siêu hình, thần bí học. Cho
nên Ấn Độ lúc bấy giờ, rất thích hợp cho Phật giáo Duy Tông Thức, Chân
Như Tông, Hoa Nghiêm Tông và Không luận Tông. Trái lại, con đường trực
chỉ quy nguyên của Thiền Tông rất khó khăn phát triển tại quê nhà. Do
dó, Thiền Tông cần phải tìm đến một môi trường thích nghi như Trung Hoa.
Đúng theo lời di huấn của Tổ thứ hai mươi bảy, ngài Bát Nhã Đa La
(Prajanatra) truyền lại cho Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma như sau: "Sáu mươi năm
sau ngày ta viên tịch, đệ tử nên du hành sang Đông Độ Trung Hoa truyền
đạo, vì môi trường hướng Đông rất thích hợp với Thiền Tông.

Theo các học giả Đông Tây, Trung Hoa và các nước thuộc miền Đông Châu Á
là đất dụng võ, rất thích hợp phát triển Thiền Tông, vì phần lớn người
dân bản xứ từng thấm nhuần, và áp dụng tinh thần hòa hợp các tư tưởng
Lão Trang trong cuộc sống hàng ngày. Đây là yếu tố thuận lợi giúp cho
tâm hồn con người dễ trở nên điềm đạm, hào sảng, chân thành, bình thản,
quân bình, mẫn tiệp, hài hòa, an nhiên tự tại, ... Những đức tính căn
bản này rất cần thiết, là những viên gạch cốt tủy để xây dựng nền móng
vững chắc cho Thiền Tông.

Vào năm 520, đời vua Lương Võ Đế, những ngày đầu tiên mới đến Trung Hoa,
Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma nhận thấy hầu hết những người học Phật chỉ hiểu theo
danh số, hành theo sự tướng "Dĩ danh số vi giải, sự tướng vi hành"
(Theo Thiền Sư Khuê Phong, tác giả sách Truyền Nguyên Chư Thuyên tập).
Cũng như các tông phái Phật giáo tại đây đều có khuynh hướng về tranh
luận siêu hình, pháp quan vô thường, phụng trì giới hạnh, ... Tất cả
khuynh hướng này đều là lớp vỏ bên ngoài, những phương tiện để diễn tả
chân lý, giống như ngón tay chỉ trăng của Phật.

Do dó, với tư tưởng cách mạng, chặt bỏ ngón tay chỉ trăng, Tổ sư Bồ Đề
Đạt Ma chủ xướng một đường lối tu hành mới, đặt lại vấn đề "giác ngộ"
cho người Trung Hoa.

TÔN CHỈ VÀ YẾU LÝ

Với chủ trương bất chấp phương tiện, kinh sách để đi thẳng vào tâm hồn
con người, Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma đã sáng chế ra bốn tôn chỉ thiền như sau:

Giáo Ngoại Biệt Truyền,
Bất Lập Văn Tự
Trực Chỉ Như Tâm
Kiến Tánh Thành Phật
Dịch nghĩa tạm là:
Truyền Riêng Ngoài Giáo
Chẳng Lập Văn Tự
Chỉ Thẳng Tâm Người
Thấy Tánh Thành Phật

Yếu lý của thiền làgì? Theo ngài chủ trương:

"Thiền là con đường đi thẳng vào tâm hồn con người để đạt chân lý, chỉ thẳng vào bản chất thể tánh của con người để giải thoát.

Thiền không thể nghiên cứu về mặt lý luận mà phải là những kinh nghiệm
sống thực, từ đó, để phát sinh ra những trực giác đi thẳng vào đời sống
tâm linh của con người. Do đó, Thiền cũng có thể hiểu là một Đạo sống
của con người. Mọi phương diện của cuộc sống đều nằm trong Đạo Sống. Thí
dụ như: - Tinh thần và thái độ cư xử hợp nhân bản trong cuộc sống của
chúng ta đối với con người và vật xung quanh là Đạo (Nhân đạo hay đạo
làm người) – Viết văn, đọc sách, làm thơ, ca ngâm, chơi nhạc, vẽ tranh,
... để nâng cao tâm hồn văn hóa nghệ tuật, và giáo dục đời sống con
người là Đạo (Văn Đạo như người xưa có câu: Văn dĩ tải đạo) – Luyện tập
võ thuật, thể dục và chơi thể thao là Đạo (Võ đạo). – Nghệ thuật uống
trà có Trà đạo. – Thửng thức cảnh vật thiên nhiên, làm vườn, cắm hoa,
trang trí sạch sẽ nhà ở, nấu thức ăn, và cách dùng y phục... tất cả
thích hợp với htời tiết và sức khỏe cá nhân, đều là Đạo (Đạo dưỡng sinh)
– Tập trung tinh thần và thưởng thức niềm vui thú trong các công việc
làm hàng ngày, tại nhà hoặc nơi làm việc cũng là Đạo. Sau cùng, yên lặng
cũng là Đạo.

Danh từ Thiền là một tiếng giản dị, nhưng ý nghĩa cao cả của nó lại vượt
lên trên tất cả hiểu biết ngoại tâm, sắc tướng của con người.
Chân lý thiền không phải là đối tượng có thể mang ra để thảo luận suông,
xuyên qua sự thông hiểu của hàng trăm kinh sách. Một người dốt nát
không hiểu biết chữ nghĩa cũng có thể đạt được chân lý thiền. Nếu tâm
của người đó tự nhận biết được bản tính thực chất của mình."
Hiện nay những sử sách ghi chép lại những lời thuyết giảng của Tổ sư Bồ
Đề Đạt Ma gồm có: Thiếu Thất Lục Môn, các bài thuyết pháp, các bài kệ
phú pháp,...

"Thiếu Thất Lục Môn" còn gọi là "Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất" là sách
ghi chép lại sáu môn đi vào đạo pháp Đạt Ma Tổ sư Thiền Tông như:

Tâm Kinh Tụng (Bộ Kinh Bát Nhã Ba-La-Mật)
Phá Tướng Luận (Luận Về Pháp Phá Tướng)
Nhị Chũng Nhập (Hai Nẽo Đường Đi Vào Đạo Pháp)
An Tâm Pháp Môn (Phép An Tâm)
Ngộ Tánh Luận (Phép Thấy Tánh Thành Phật)
Đạt Ma Huyết Mạch Luận (Phép Luận Chính Yếu Của Đạo Phật)
Sau đây là bài kệ phú pháp của Đạt Ma đọc trong lúc truyền y bát cho ngài Nhị Tổ Huệ Khả (tức Thần Quang)
"- Ngôn Bản Lai Tư Thổ - Thọ Pháp, Cứu Mê Tình
- Nhất Hoa Khai Ngũ Diệp - Kết Quảtự Nhiên Thành"

dịch nghĩa tạm là:
"- Ta Vốn Qua Trung Thổ - Trao Pháp, Cứu Mê Tình
- Một Hoa Năm Cánh Trổ - Trái Kết Tự Nhiên Thành"

Theo sách "Truyền Đăng lục" (do Đạo Nguyên soạn 1101, đầu đời Tống), bài
thuyết giảng đầu tiên cho triều đình Lương Võ Đế chính là phần cơ bản
của Đạt Ma Huyết Mạch Luận. Ngài đã đặt lại các quan điểm: An tâm, Kiến
tánh, Pháp thân, Phá tướng, và các nguyên lý Thiền đạo. Ngài rất thất
vọng vì triều đình Lương Võ Đế, đại diện cho một lớp người tầm thường về
mặt tư tưởng: nệ cổ, thành kiến bởi những phong tục tập quán, bảo thủ
với những phước đức cầu danh nhỏ hẹp, không đủ căn cơ lĩnh hội những tư
tưởng mới lạ, cao thâm của ngài như sau:

"Cả thế giới được nghĩ trong Tâm. Tất cả các chư Phật từ quá khứ hiện
tại đến tương lại, đều được tạo thành ngay ở trong Tâm. Sự hiểu biết
cũng được truyền bá từ Tâm sang Tâm nhờ vào lời nói. Tâm của mọi người
đều đồng điệu, tương ứng trong thực tại muôn đời, với thực tế muôn đời.
Tâm là Phật. Ngoài tâm không có Phật. Sự giác ngộ nào ngoài Tâm linh
động, ngoài thực tại của Tâm. Tất cả đều là huyển tượng. Duy chỉ có tư
tưởng của Tâm và sự an nghĩ của Tâm mới chính là Niết Bàn thực sự.

Cho nên, mình phải tự lắng nghe và tự nhìn thất Phật tánh ngay trong
chính mình. Mọi người là một vị Phật trong chính mình. Do đó, mình chẳng
cứu ai cả, cũng như không có ai có thể cứu được mình. Mình không phải
van xin, nguyện cầu bất cứ ai, vì không có vị Phật nào hiểu mình hơn
chính mình tự hiểu. Vì vậy, mình không phải học hỏi những sự hiểu biết
trong các kinh sách của bất cứ ai...

Thân xác là phù du, trong cuộc đời trôi nhanh với thời gian ngắn ngủi
nầy. Vậy ta tự giải thoát, bằng cách tự khám phá lại hình bóng của
mình...
Tâm ơi! Hỡi Tâm! Mi lớn đến nỗi bao trùm cả vũ trụ, mi nhỏ đến nỗi mũi
kim không xuyên qua lọt. Hỡi Tâm của ta ơi! Mi là Phật, và chính vì mi
mà ta phải lao đao qua Trung quốc để giảng truyền đạo lý..."

SỰ KẾ THỪA BỒ ĐỀ ĐẠT MA

Đạt Ma Tổ sư Thiền hay là Thiền Tông Trung Hoa được chuyển hóa từ Thiền
Tông Ấn Độ, do ngài Bồ Đề Đạt Ma khai sáng, trong chín năm "Diện Bích
Tham Thiền" tại chùa Thiếu Lâm Tự (núi Tung Sơn). Sau đó, đúng theo lời
tiên tri của Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma, trong bài kệ phú pháp truyền lại cho
Nhị Tổ Huệ Khả là "- Nhất Hoa Khai Ngũ Diệp, Kết quả tự nhiên thành".
Thiền Tông Trung Hoa đã được kế thừa bởi năm vị tổ như sau:
Nhị Tổ Huệ Khả (486-593)
Tam Tổ Tăng Xán (606)
Tứ Tổ Đạo Tín (580-651)
Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (601-674)
Lục tổ Huệ Năng (638-713)
Trong khoảng hai trăm năm, sáu vị tổ sư đã gia công hưng thịnh Thiền
Tông Trung hoa. Từ đó, Thiền Tông được bành trướng sâu rộng vào các nước
thuộc miền Đông Châu Á, điển hình như các nước Nhật, Đại Hàn, Việt Nam,
Đài Loan, HongKong, ...
Trong thời kỳ sơ khởi này cách truyền dạy Thiền qua những lời truyền
khẩu (không có chữ viết), những lời dạy giản dị, dể hiểu và thực tiễn.
Việc tu tập chủ yếu vẫn theo lối Ấn Độ. Đó là kỹ thuật "Quán Tâm trong
Tĩnh Lặng" hay nói theo danh từ nhà Thiền là Mặc Chiếu.

Vào khoảng đầu thế kỷ thứ tám, Lục tổ Huệ Năng có một số đệ tử xuất sắc
torng đó co hai người là Hoài Nhượng (? – 788) và Hành Tư (? – 775) có
ảnh hưởng rất mạnh mẻ. Mỗi vị lại có một đệ tử xuất sắc là Mã Tổ (? –
788) và Thạch Đầu (700-790), hai vị này lại có một số đệ tử phi thường,
trực tiếp hoặc gián tiếp đã sáng lập ra năm phái Thiền chính, vào thời
đó như: Phái Lâm Tế, phái Tào Động, phái Qui Ngưỡng, phái Vân Môn và
phái Pháp Nhãn. Theo thời gian ba phái Qui Ngưỡng, Vân Môn và Pháp Nhãn
không còn tồn tại, đều bị đồng hóa vào hai phái Lâm Tế hoặc Tào Động. Do
đó, hai phái Thiền độc nhất là Lâm Tế và Tào Động vẫn còn tồn tại đến
ngày nay. Trãi qua nhiều thế hệ, hai phái này thường hay đối địch với
nhau. Tào Động vẫn giữ việc tu tập "Mặc Chiếu" theo truyền thống Ấn Độ,
còn Lâm Tế theo kiểu Trung HOa và Nhật là tham khảo Công Án (Thoại Đầu),
cách tập này rất là rắc rối, khó hiểu.

votam

Tổng số bài gửi : 9
- + Điểm Đạo Hạnh : 1
Join date : 09/04/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết