TUtập để làm gì?

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

TUtập để làm gì?

Bài gửi by minh đài on 24/11/12, 04:16 pm

Thường những gì động là vô thường sinh diệt.
Thân động cho nên thân vô thường sanh diệt, tâm động nên tâm vô thường
sinh diệt. Chấp thân vô thường sinh diệt là thân mình, chấp tâm vô
thường sinh diệt là tâm mình, đó là sai lầm. Nếu buông hai thứ chấp đó,
chỉ nhận cái không động, không sinh diệt, không có tướng trạng vô
thường, hằng yên tĩnh sáng suốt đó, thì làm gì bị dẫn đi trong luân hồi.

Hôm nay, đạo tràng Thái Tuệ về Thiền viện Trúc Lâm cúng dường mùa an cư,
quí thầy có ít lời nhắc nhở cho đạo tràng để quí vị tinh tấn tu hành.


Là người Phật tử, quí vị vừa lo sinh sống cho gia đình, vừa lo tu hành,
đồng thời giúp đỡ huynh đệ chung quanh cùng biết tu, đó là duyên tốt. Vì
vậy tôi sẽ nhắc nhở thêm cho quí Phật tử những điểm trọng yếu trong
Phật pháp.


Ðức Phật Thích Ca khi sinh ra đời, một tay chỉ trời một tay chỉ đất, nói
câu: "Trên trời, dưới trời, chỉ có ta là hơn hết." Câu này quý thầy đã
giảng rộng rồi, nhưng ở đây tôi nhấn mạnh lại trọng tâm. Người ta cứ
nghĩ Phật nói thế là bản ngã hơn hết, nhưng sự thật không phải vậy. Với
thâm ý của đạo Phật thì trên trời dưới trời chỉ có ta, tức con người là
hơn hết.


Tại sao vậy? Vì trong vũ trụ, trời che đất chở nhưng trời đất vô tri,
chỉ con người là có tri giác. Ðất chở đất nuôi chúng ta, nhưng đất có
biết làm gì đâu, chỉ là hình tướng che chở giúp cho mình có sự sống. Còn
trời là mây, mưa, mặt trời, mặt trăng, giúp cho ta đủ điều kiện sống
trên thế gian này. Nên nói trời đất vô tri, chỉ có con người tri giác,
như vậy tri giác là trên tất cả. Vì thế con người là trọng tâm của trời
đất, chớ không phải thường.


Lâu nay chúng ta ai cũng như ai, hầu hết đều coi thường mình, chỉ kính
trời trọng đất. Ðó là lỗi lầm rất to. Sợ trời phạt, mong trời thương,
cầu thổ địa ủng hộ cho nhiều... tất cả những việc đó chỉ là phần phụ
bên ngoài không đáng kể. Chính yếu là con người. Con người rất quan
trọng đối với đạo Phật, nên đức Phật Thích Ca ra đời đã tuyên bố mục
tiêu trọng yếu đó. Ngài ra đời là vì đề cao giá trị của con người. Ðó là
trọng tâm, khác với các nhà khoa học hay triết học, luôn nghiên cứu tìm
tòi bên ngoài, chinh phục vũ trụ mà quên xoay lại con người, chinh phục
chính bản thân mình.


Quí Phật tử kiểm nghiệm lại trong đời sống của mình, xét xem chúng ta
nhớ mình nhiều hay nhớ bên ngoài nhiều. Sáng thức dậy thì sao? Sửa soạn
đi chợ hoặc đi làm công tác, luôn luôn nhớ những việc bên ngoài, chớ
không nhớ mình. Lo điều này điều kia, mua sắm đủ thứ. Ngoài chợ có những
món hàng mới lạ, nếu trong túi có tiền liền đi mua sắm. Chúng ta ưa
thích những gì mới lạ bên ngoài, ít khi nghĩ đến con người mình. Quí vị
có khi nào nghĩ mình là cái gì không? Chắc không! Cứ hài lòng với con
người như vầy, sự sống như vầy là đủ rồi. Thêm nữa là sự ăn mặc, nhà
cửa, xe cộ, lo bấy nhiêu đó mà quên nghĩ mình là cái gì.


Mình là gì không biết mà cái gì cũng lo cho mình. Sắm máy thu thanh, hỏi
sắm cho ai, sắm cho mình. Mua chiếc nệm để làm gì? Ðể cho mình nằm. Cái
gì cũng mình hết. Nhưng thử hỏi mình là gì thì không biết! Ðó là điểm
chính yếu mà tất cả chúng ta quên, chúng ta lơ là.


Ðạo Phật không cho phép người Phật tử như vậy mà chúng ta phải biết mình
cho rành rẽ, tường tận. Vật bên ngoài chỉ phụ thuộc, nghĩa là biết được
bao nhiêu hay bấy nhiêu, trọng yếu là phải biết mình, vì con người là
trọng tâm của vũ trụ. Biết tất cả mà không biết mình thì cái biết đó
chưa thật biết. Tất cả tài sản mình được mà hỏi mình là cái gì cũng
không biết. Như vậy, tất cả cái được đó đều không giải quyết tận cội gốc
của con người. Sống mà không biết mình là gì thì cuộc sống hết sức
rỗng, vô giá trị. Nếu chúng ta chỉ lo ăn mặc cho sung sướng, nhà lầu xe
hơi, tức là chỉ lo thụ hưởng sung túc, mà mình là gì không biết thì ai
hưởng thụ đây?


Ðó là vấn đề mà đức Phật hay người tu hy sinh cả cuộc đời, phăng tìm cho
ra manh mối để giải quyết về thân phận con người. Ngày nay chúng ta tu
theo đạo Phật cần phải hiểu vấn đề đó, không thể xem thường. Cứ lo ăn lo
mặc, lo sống để chờ tới ngày chết, cuối cùng là tan rã. Ví như chúng ta
cất cái nhà thật đẹp nhưng biết mai mốt nó sẽ tan nát thì còn quí nó
không? Cái không bền, không lâu dài, chúng ta đâu có quí. Vậy thì thân
này không lâu dài, tại sao mình lại quí, đó là mê hay giác? Ðó là mê.


Vì vậy đạo Phật dạy chúng ta phải giác, chớ không cho mê. Người mê thì
không sáng suốt, không có trí tuệ. Mà không sáng suốt, không trí tuệ thì
sống như chết, không có giá trị gì hết! Ý nghĩa quan trọng là phải biết
được mình thì cuộc sống mới có giá trị. Dù sống nghèo hay sống thiếu
thốn vẫn có ý nghĩa như thường. Còn không biết mình là gì thì cuộc sống
hoàn toàn vô nghĩa.


Nhưng muốn biết mình là gì phải làm sao? Chính điểm này tôi muốn hướng
dẫn cho quí Phật tử ứng dụng tu tập để tìm lại xem mình là cái gì? Bao
nhiêu người dù trí thức hay bình dân đều nghĩ mình luôn luôn hiện tiền,
nhưng hỏi mình là gì thì không trả lời được. Như vậy, cái hiện tiền đó
cũng chỉ là ảo tưởng thôi. Chúng ta phải tìm ra lẽ thật mình là gì chớ
không thể tưởng tượng được. Chúng ta tu không phải tìm cái gì xa xôi ở
bên ngoài mà phải xoay lại soi sáng chính mình để tìm xem mình là gì?
Cái gì là thật mình? Nếu tìm ra được cái thật mình là ngộ đạo. Ðừng
tưởng ngộ đạo là chạy lên non, lên núi, lên mây, lên trời, mà ngộ đạo là
tìm ra được cái thật mình. Tìm được cái thật mình rồi thì ngang đó giải
quyết xong dòng sinh tử. Không tìm ra được cái thật mình thì luôn luôn
sống trong dao động, biến chuyển. Mà dao động biến chuyển là tướng sinh
diệt vô thường. Nếu chấp giữ tất cả hình tướng tâm niệm vô thường là
mình thì mình là một dòng biến chuyển. Chuyển biến nơi này tới nơi kia
không dừng, Phật gọi đó là luân hồi. Ðã luân hồi thì chỉ có giải thoát
luân hồi mới là vui.


Tôi thường nói thân này không phải thiệt mình. Nhưng ai cũng bám vào nó,
cũng nghĩ nó là mình. Nếu thân này thật mình thì nó nguyên vẹn, nhưng
nếu ở trong da thịt chúng ta chỗ nào bị ung nhọt thì có mủ hôi hám. Mủ
hôi hám đó là mình chăng? Ðã từ da thịt mình loại ra thì nó đâu phải
mình. Nếu là mình thì chúng ta phải mến nó chứ, ngược lại mình rất gớm
nó. Như nước bọt ở trong miệng có phải là mình không? Nếu là mình thì
khi nhổ ra rồi, mình lấy lại được; nhưng chúng ta có làm như vậy không?
Kể cả máu huyết là thiết yếu của sự sống, nhưng chúng ta chích ra chừng
một chung máu, rồi bảo uống lại có dám uống không? Nếu thật mình thì đâu
nỡ bỏ; đằng này buông ra rồi, chúng ta gớm nó thì làm sao nói mình
được. Nếu thân này là mình thì khi thiếu máu, mua máu của người khác đem
vô, máu người khác thì đâu phải của mình, nhưng khi đem vô rồi lại nói
máu mình. Lạ chưa! Từ bản thân mình loại ra thì chúng ta gớm, còn của
người khác đem vào thì nhận là mình. Thật vô lý! Cho nên từ đó mới thấy
rõ ràng thân này không thật là mình.


Trong kinh, đức Phật kể lại: Có một người đi sang làng khác, giữa đường
gặp sa mạc. Trời tối, ông thấy cái chòi cũ không có người ở, nên vào
nghỉ tạm qua đêm. Ðang nằm, có tiếng động bên ngoài, ông trỗi dậy nghe
ngóng. Bỗng cánh cửa bị xô vô, thì ra một con quỷ to tướng đang vác cái
thây người chết liệng xuống đất. Ông hoảng sợ quá đứng nép sau vách.
Bỗng có con quỷ thứ hai chạy vào, dành ăn với con quỷ thứ nhất. Ðứa này
nói cái thây của tao, đứa kia nói cái thây của tao, hai đứa giành nhau
rồi cãi lộn.


Lúc đó chúng chợt thấy ông đứng bên vách. Con quỷ thứ nhất nói từ đầu
tới cuối có ông này làm chứng, nếu ông nói của đứa nào thì đứa đó ăn.
Nghe vậy ông run quá, nếu nói của thằng này thì thằng kia bẻ cổ mình,
nhưng thôi kệ thà chết chớ không nói dối. Nên ông bảo: "Khi nãy tôi thấy
rõ ràng anh A đem cái thây vô quăng ở đây." Thằng kia tức giận quá liền
giựt ông một cánh tay. Con quỷ thứ nhất thấy vậy thương, bèn xé cánh
tay của thây chết ráp vào cho ông. Vừa ráp xong thì con quỷ thứ hai giựt
cánh tay còn lại quăng ra. Con quỷ đầu xé cánh tay thứ hai của thây
chết gắn vào. Rồi tới chân phải, chân trái. Hễ con quỷ này xé quăng ra
thì con kia lấy chân của thây chết gắn vào. Cuối cùng mệt quá hai con
quỷ ngưng cãi, chúng chia hai chân, hai tay của ông bị vứt ra và ăn.


Ông ta hoảng hốt tự hỏi mình là cái gì? Rõ ràng tay chân hiện giờ là của
thây chết. Ông mới đi tìm gặp những vị sáng suốt để hỏi xem ông bây giờ
là gì. Gặp được một vị A La Hán, đảnh lễ xong, ông thưa:


- Bạch Ngài, con bị hai con quỷ đem tay chân của thây chết ráp vào cho con, bây giờ cái gì là con?


Vị A La Hán nói:


- Tốt lắm! Như vậy là ông sắp ngộ đạo.


Câu chuyện tới đó hết. Quí vị thấy nếu vật tạm bợ hư giả mà chúng ta
biết thắc mắc, tìm tòi, không tin nó thật, thì đó là sáng suốt, thấy
được lẽ thật. Cuộc đời này có ai thấy được lẽ thật không, có ai thắc mắc
mình là gì không? Hay cứ hài lòng. Ðã hài lòng rồi thì tìm mọi thứ cho
nó thụ hưởng, chờ đến ngày bại hoại. Ðó là nỗi đau đớn của con người
trong kiếp mê lầm. Chúng ta phải ý thức mình là gì, tìm cho ra cái mình
đó chính là gốc của sự tu. Người biết quay lại tìm mình là người sắp
thấy đạo.


Vì vậy tôi hướng dẫn Tăng Ni ở các Thiền viện cũng như Phật tử trong các
đạo tràng khi tụng kinh thì đặt nặng kinh Bát Nhã. Trong kinh Bát Nhã
câu đầu: "Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu
kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách." Chỉ cần soi lại thân
năm uẩn này không thật thì tất cả khổ nạn qua hết. Quí vị có soi lại
không? Nhiều khi đọc thì đọc mà không chịu soi lại. Cần phải soi lại
thân năm uẩn này xem nó có thật hay không. Nếu thấy rõ ràng nó không
thật thì tất cả khổ ách đều qua. Ðiều này hết sức cụ thể.


Thường chúng ta thấy thân này, vọng tưởng này là ta, nên những gì cung
cấp cho thân này được khỏe, được sung túc mà người khác đoạt đi thì ta
tức giận lên. Ta nghĩ việc gì đúng mà ai nói khác thì nổi giận. Như vậy
khổ là do chấp thân, chấp tâm mà ra. Nếu biết thân này không thật, ý
nghĩ không thật thì đâu còn chấp, đâu còn giận ai, nhờ thế mọi khổ ách
đều qua hết. Người ta chửi, mình cười chơi thôi. Có gì thật mà phải khổ,
phải giận, dành hơn, dành thua. Anh không thật, tôi không thật, cái
chửi cũng không thật luôn nên chỉ cười vui thôi.


Ngược lại, nếu thấy thật thì động tới xác thịt liền đau tức, động tới ý
kiến trái mình liền sân giận. Rõ ràng do chấp thân, chấp tâm mà mình
khổ. Vì vậy kinh Bát Nhã nhắc cho chúng ta soi thấy năm uẩn là không thì
qua hết thảy khổ nạn. Việc tu hết sức giản đơn, không phải cầu Phật hay
cầu ai làm cho mình hết khổ, chỉ cần thấy rõ năm uẩn không thật là hết
khổ.


Năm uẩn có sắc, thuộc về vật chất; thọ, tưởng, hành, thức thuộc về tâm;
cả hai đều không thật. Biết rõ như vậy thì khổ nạn nào cũng qua hết, chớ
không phải Phật hay Bồ-tát, thần thánh nào cho mình hết khổ nạn. Hết
khổ nạn là do trí tuệ của chúng ta soi thấy thân năm uẩn không thật.
Kinh dạy một câu thôi chúng ta tu cả đời. Tu là phải soi lại chớ không
phải phóng ra. Nhưng hiện nay đa số người tu cầu xin nhiều hơn soi lại.


Xét hai phần vật chất và tinh thần: Sắc là sắc chất tức thể xác không
thật. Thọ, tưởng, hành, thức tức tinh thần cũng không thật. Thấy rõ như
vậy là giác? Mê giác cách nhau chẳng bao xa. Thấy thân thật, cái suy gẫm
thật là mê. Thấy thân không thật, cái suy gẫm không thật là giác.


Trong kinh Viên Giác có vị Bồ-tát thưa hỏi Phật:


- Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh?


Phật đáp:


- Chấp thân tứ đại duyên hợp là thật của mình, chấp tâm suy nghĩ lăng xăng là tâm thật của mình là vô minh.


Hết vô minh là giác. Như vậy mê giác như trở bàn tay thôi, gần một bên
mà mình tu hoài không được, tại sao? Tại vì mê chấp thấm sâu lâu đời quá
rồi. Ngày nay đọc kinh Phật, nghe quý thầy giảng chỉ mới lóe lên chút
thôi, chưa hẳn là thấy nó không thật. Chỉ khi nào ngồi lại thấy thân
không thật, tâm không thật, tất cả đều do duyên hợp tạm bợ, thấy rõ như
vậy thì mọi khổ nạn qua hết.


Ðược vậy sống ở đây cũng giống như Cực Lạc, có gì buồn, có gì khổ.
Chúng ta cũng ăn, cũng uống như mọi người, nhưng không chê khen buồn
giận, không mê lầm chấp thân tâm là được. Muốn thế thì phải soi lại
mình, không thể phóng ra ngoài nữa. Quí Phật tử cứ phóng ra, không biết
quay lại, nên đi chùa hai chục năm vẫn không hết phiền não.


Bây giờ trở lại vấn đề tu tập, chúng ta ngồi thiền để làm gì? Ðể nhìn
lại mình. Bởi vì chúng ta hướng ra thì mắt thấy sắc, tai nghe âm thanh,
mũi ngửi mùi hương, lưỡi nếm vị, gió thổi xúc chạm... tiếp xúc các trần.
Lúc đó dù chúng ta có tu vẫn bị ảnh hưởng bên ngoài nhiều. Chỉ khi ngồi
yên, mắt nhìn xuống, gác hết năm trần bên ngoài, không cho nó lôi cuốn
nữa. Nên giờ ngồi thiền là giờ ngồi để soi lại. Soi thế nào?


Phương tiện ban đầu, chúng ta dùng hơi thở hít vô thở ra đếm một, hít vô
thở ra đếm hai, ... như chơi vậy. Nhưng nhờ nhớ hơi thở ra hơi thở vô,
hơi thở thì ở trong nên chúng ta mới phản quan. Thấy hơi thở vô, hơi thở
ra đều đặn như vậy, nếu thở ra mà không hít vô thì chết. Rõ ràng thân
tạm bợ phải không? Vừa khởi nghĩ việc gì liền buông, mình tự nhắc vọng
tưởng hư dối không thật. Thân này do tứ đại hợp thành. Hơi thở là gốc,
thở ra không hít vào là chết nên sự sống rất mỏng manh. Ðã mỏng manh lại
cộng thêm cái tâm chợt có, chợt không là vọng tưởng hư dối. Tập soi
sáng lại mình như vậy, gọi là tỉnh giác.


Ngài Ðạo Nguyên ở Nhật Bản nói: "Một giờ ngồi thiền là một giờ làm
Phật." Tại sao? Giờ ngồi thiền là giờ giác, còn giờ ở ngoài là giờ mê.
Trong một ngày, quí Phật tử có đủ thứ chuyện. Thấy chuyện này, nghe
chuyện kia toàn là phóng ra ngoài, chớ không quay lại. Còn giờ ngồi
thiền là giờ quay lại mình. Theo hơi thở, thấy vọng tưởng, buông; đó là
nhìn lại mình, tỉnh giác rõ ràng, không bị mê lầm. Lúc tỉnh giác đó
không phải là Phật là gì? Phật là giác. Chúng ta đang giác nên chúng ta
là Phật.


Sở dĩ ngồi thiền ngủ gục bị đánh là sao? Bởi vì trọng tâm là phải giác.
Chúng ta ngồi ngủ mê nên đánh cho tỉnh, không để mê nữa. Hiểu vậy mới
biết tại sao nhà thiền khắt khe. Vì sợ mình mê theo cảnh, hoặc si mê
không biết gì nên phải làm cho mình tỉnh, tỉnh đó là giác. Ðược vậy một
giờ ngồi thiền là một giờ làm Phật, chớ ngồi ngủ khò khò thì làm Phật
sao được.


Chúng ta phải hiểu rõ ý nghĩa quán hơi thở. Nhiều khi chúng ta thực tập
mà không hiểu nên nắm không vững, tu như vậy sẽ không đi tới đâu. Hơi
thở vô ra xem như chuyện tầm thường, nhưng nhờ nhớ hơi thở mà chúng ta
quay lại. Nếu không nhớ hơi thở thì tâm mình chạy rong. Tu là phải quay
lại soi sáng chính mình. Nhờ theo dõi hơi thở vô ra, lúc thở khì mà
không hít lại là chết. Chỉ có mấy giây đồng hồ thôi, mới biết như vậy sự
sống không bền, không thật. Bao nhiêu đó đủ để chúng ta chứng nghiệm
được cuộc sống này.


Ðến vọng tưởng, niệm này nhảy ra niệm kia nhảy vô, chúng ta buông, nó
mất; để thấy tâm này cũng không thật. Thấy thân không thật, thấy tâm
cũng không thật, không phải tỉnh giác là gì? Nên giờ ngồi thiền là giờ
tỉnh giác, giờ ngồi thiền là giờ tối quan trọng, chứ không phải tầm
thường. Khi tỉnh giác được rồi, chúng ta mới thấy rõ được mình. Thấy
thân này không thật, tâm này không thật thì mọi cố chấp theo đó rã tan.
Chấp đã không còn thì khổ đau theo đó hết. Ðây mới chỉ là chặng số một
thôi.


Tôi xin hỏi những vị tu hơi lâu một chút, khi ngồi thiền chừng năm ba
phút, trong tâm không nghĩ nhớ gì hết, lúc đó chúng ta có biết không? Dạ
có biết. Như vậy, có mình hay không có mình? Có mình.


Nếu cái nghĩ là mình thì khi không nghĩ là không có mình. Không nghĩ mà
có mình thì cái nghĩ không phải là mình rồi. Bấy nhiêu đó đủ chứng minh
cái suy nghĩ không phải là mình, vì nó chợt có chợt không. Những thứ
lăng xăng lặng hết thì tri giác hằng hữu. Ðó là mình rồi, thực tế đâu có
xa. Như vậy, cái mình chân thật đó không phải là cái suy nghĩ. Nghĩ suy
là sinh diệt tạm bợ, không phải chân thật. Còn không nghĩ mà hằng biết,
có tiếng động liền nghe, hình ảnh đến liền thấy, gió chạm thì mát
v.v... yên tĩnh sáng suốt không nghĩ ngợi gì hết, đó chính thật là mình.


Thường những gì động là vô thường sinh diệt. Thân động cho nên thân vô
thường sanh diệt, tâm động nên tâm vô thường sinh diệt. Chấp thân vô
thường sinh diệt là thân mình, chấp tâm vô thường sinh diệt là tâm mình,
đó là sai lầm. Nếu buông hai thứ chấp đó, chỉ nhận cái không động,
không sinh diệt, không có tướng trạng vô thường, hằng yên tĩnh sáng suốt
đó, thì làm gì bị dẫn đi trong luân hồi.


Có tu rồi, chúng ta sẽ thấy nó rõ ràng, không còn nghi ngờ gì hết. Sống
được với những phút giây chân thật, ta mới thấy khi suy nghĩ dứt bặt thì
chân thật hiện tiền, chớ không phải không có. Chúng ta không nhận ra nó
là vì mình cứ suy nghĩ hoài, hết chuyện này tới chuyện kia, mãi chạy
theo những suy nghĩ thì làm sao biết rằng khi không suy nghĩ, lại có cái
chân thật. Vì vậy nói thiền dễ định. Ðịnh là dừng hết những suy nghĩ.
Dừng hết suy nghĩ thì cái chân thật hiện tiền. Nhận ra cái đó thì tỉnh
thì giác, gọi là giác ngộ. Tức thấy được lẽ thật của thân tâm, giả biết
giả, thật biết thật. Ðó là kiến tánh, là thấy đạo. Ðơn giản vậy thôi.


Trong nhà Phật dạy thân, miệng, ý tạo tác các nghiệp, mà chủ yếu là ý. Ý
nghĩ tốt, miệng nói tốt, thân làm tốt. Ý nghĩ xấu, miệng nói xấu, thân
làm xấu. Ý là chủ tạo nghiệp. Ý nghĩ này lặng đi thì còn cái gì tạo
nghiệp. Nghiệp là gốc dẫn chúng ta đi trong luân hồi sinh tử. Nếu hết
nghiệp thì cái gì dẫn chúng ta nữa, như vậy không giải thoát là gì?


Cho nên giác ngộ được thân vô thường, tâm sinh diệt, thì cái chân thật
hiện tiền không sinh, không diệt. Sống được với cái chân thật này thì
không còn tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử nữa. Như vậy rõ ràng tu
là để giải thoát sanh tử.


Mục đích của chúng ta tu không gì khác hơn trọng tâm của đức Phật dạy
"xoay lại con người". Vì con người là tối thượng. Dù có bay được trên hư
không (bây giờ chúng ta đi máy bay phản lực), hay cất nhà lầu chín chục
tầng v.v... đều là vô thường, nay còn mai mất. Chỉ có trở lại tâm chân
thật không hình không tướng của mình, là không vô thường; hằng giác
không động nên không sinh diệt. Ðó mới là chân thật. Ðược vậy chúng ta
sẽ tin lời Phật dạy không hư dối.


Hôm nay tôi nhắc tất cả quí Phật tử hiểu được căn bản của việc tu hành.
Vậy từ đây về sau huynh đệ hòa hợp với nhau, với tư cách cư sĩ vừa lo
đời, vừa lo đạo. Lo đó chính là lo cho mình. Ðể ngày mai quí vị có nhắm
mắt, dù chưa hết niệm sinh diệt thì cũng sinh diệt trong cảnh tốt. Bằng
như được hết sinh diệt thì thảnh thơi tự tại, còn gì quí hơn!


Mong quí Phật tử nỗ lực tinh tấn tu hành.


HT.Thích Thanh Từ
(bài sưu tầm)

_________________
Cư sĩ DIỆU ĐỊNH
--------------------
Hoa sen giữa đầm bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn


minh đài
Mod

Tổng số bài gửi : 69
- + Điểm Đạo Hạnh : 6
Join date : 06/11/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: TUtập để làm gì?

Bài gửi by minh đài on 24/11/12, 04:19 pm

TU TRƯỚC KHỔ SAU VUI
HT Thích Thanh Từ

Có nhiều người đi chùa thấy cảnh sinh hoạt cuả Tăng Ni trong chùa, nào
thức khuya dậy sớm để tụng kinh ngồi thiền. Sáng ngày phải lao động chấp
tác, chiều đến phải học kinh luật. Ăn thì ăn cơm hẩm với tương rau đạm
bạc, mặc thì mặc vải thô nhuộm màu hoại sắc. Nhứt là thấy mấy cô trẻ,
tuổi mười lăm hai mươi cũng có học hành, gia đình cũng không đói thiếu,
thắc mắc tại sao lại giam mình chịu khổ như vậy ? Lại cũng có người thắc
mắc : người ta đi tu là vì thất tình thất chí, mấy người này không có
những chuyện đó, tại sao cũng đi tu ? Đây là những vấn đề cần phải giải
thích, để cho mọi người thấy rõ lợi ích của sự tu hành.

Nếu chúng ta chỉ nhìn qua hình thức bên ngoài thì không thể hiểu giá trị
của sự tu. Những cái mà tôi tạm gọi là cái khổ ban đầu của người tu là :
Người đời ở tuổi thanh xuân, đầu tóc đen nhánh được xông ướp nước hoa
thơm, vắt nơ cài hoa thật đẹp. Khi vào chùa đầu cạo nhẵn bóng, hủy hình
chẳng còn gì là xinh đẹp. Mặc thì người đời mặc hàng lụa mịn láng màu
sắc sặc sỡ, áo này quần nọ, vô chùa phải mặc phải mặc vải thô nhuộm hoại
sắc lem luốc. Còn ăn thì ở đời cao lương mỹ vị, muốn ăn lúc nào thì ăn,
vào chùa thì sáng trưa cơm rau, chiều cháo chay lạt qua ngày. Đó là ba
cái khổ ban đầu của người tu. Song, còn cái khổ ngặng nề nữa là khi chưa
tu, có ai nói làm sai trái thì dám la rầy hay cãi lại. Khi tu rồi dù có
bị người lấn hiếp chửi mắng, cũng phải lặng lòng nhẫn chịu. Như vậy
người tu chịu nhiều thiệt thòi, vừa thiệt thòi về ăn mặc, vừa thiệt thòi
về trang sức, thiệt thòi cả sự nhẫn nhục nữa. Thiệt thòi như thế quả
thật là khổ. Tại sao khổ mà người ta lại chấp nhận ? Có phải do mê mờ mù
quáng chấp nhận, hay trong sự tu hành có cái gì an lạc cao cả mà họ đã
thấy, nên mới dám đánh đổi cái khổ cực để nhận lấy cái an lạc cao siêu?

Sau đây là những cái đánh đổi rất gần mà ai cũng thấy. Các cô ni trẻ nếu
không đi tu, ở nhà sẽ có gia đình, có con, mang nặng đẻ đau, làm lụng
vất vả nuôi con, con lớn thì có cháu lo cho cháu. Con cháu mà có hiếu
còn đỡ, nếu phải con cháu bất hiếu, mất dạy làm nhiều chuyện xằng bậy,
di hại cho nó và người xung quanh thì khốn khổ vô cùng. Cả cuộc đời khổ
vì con vì cháu cho tới già chết, đó là không khổ vì chồng bất lương, chỉ
khổ vì con cháu bất hiếu. Nếu gặp ông chồng thiếu đạo đức rượu chè cờ
bạc mèo mỡ, không chịu làm ăn, cảnh nhà nghèo túng, đi thì thôi, về nhà
là chửi bới đánh đập vợ con, cảnh nào khổ bằng cảnh này ? Khi mới lập
gia đình, ai cũng mơ ước ngày mai mình sẽ được hạnh phúc, nhưng khi đối
diện với thực tế thì nếm đủ mùi đắng cay. Khi mới lập gia đình thấy như
là hạnh phúc lắm, nhưng về sau khổ này chồng chất lên khổ kia không thể
kể xiết. Các thầy tăng trẻ nếu không đi tu ở nhà thì có vợ có con, tay
bồng tay dắt, cả đời làm lụng vất vả để nuôi vợ nuôi con. Nếu gặp người
vợ đoan chính biết phụ lo cho gia đình thì còn đỡ. Nếu gặp phải người vợ
trắc nết, hư hèn chồng đi làm cực nhọc, ở nhà cứ ăn chơi tiêu pha tiền
của thỏa thích. Việc nhà không trông nom, con cái không chăm sóc dạy dỗ,
mặc cho việc nhà ra sao thì ra, con nên hư thế nào cũng được. Các thầy
không tu ở nhà gặp cảnh gia đình vợ con như thế thì khổ hay vui ? Vô
cùng khổ sở. Khổ sở dai dẵng suốt cả cuộc đời.

Lại nữa người phát tâm tu theo đạo Phật, thấp nhất là cư sĩ qui y thọ
năm giới. Vì có tiếng là Phật tử nên phải giũ tư cách của người tu, ai
lấn hiếp chèn ép mình cũng phải rán nhịn chịu. Không nhịn chịu như người
xuất gia, chớ cũng phải chịu lép để cho người ta hơn mình. Đó là một
cái thua thiệt của người tu. Tuy nhiên, trước bị thua thiệt, sau lại
được an vui. Trong năm giới điều mà người Phật tử đã thọ khi qui y. Giới
thứ nhâùt là không sát sanh.

Người không biết tu, không giũ giới sát sanh, mỗi khi bị ngưới ta hãm
hại, lòng sân giận nổi lên đánh đập hoặc chém giết, hoặc bỏ thuốc độc
cho người ta chết để thỏa lòng sân giận. Song, khi biết tu, tuy có nổi
nóng nhưng không dám nghĩ tới hâi người. Mình không hại người thì người
không hại lại, và cũng không bị tù tội. Nhờ biết tu, trước chịu thua
thiệt người, nên tránh được cái khổ sát hại và thân được yên ổn.

Giới thứ hai không trộm cắp. Người chưa biết tu thấy của người để hời
hợt dễ lấy, liền khởi lòng tham lấy làm của mình, khi được của tiêu xài
hỷ hạ với vợ con không chút lo buồn. Nhưng khi công an phát giác bắt bỏ
tù năm năm, mười năm... lúc đó nỗi khổ kéo dài lê thê. Đó là người không
tu, sống trước vui sau khổ. Người biết tu thấy của người không tham,
thấy của rơi không lượm. Vì nghĩ rằng làm ra của cải phải khó khổ, nhọc
nhằn lao thần tổn sức, chớ không phải bổng dưng mà có. Tiền của mình làm
ra có khi giữ còn không được huống là tiền của người ! Thế nên không
tham lam, sống đời hiền lương. Tự đem công sức lao động tạo cho mình một
cuộc sống lương thiện, thấy như bị thiệt thòi, nhưng được bình an,
không sợ công an, không ngại người đời nghi mình bất chánh. Đó là trước
khổ sau vui của người giũ giới không trộm cắp.

Giới thứ ba không tà dâm. Người có gia đình rồi, tức là có vợ hay có
chồng, mà đi ngoại tình với kẻ khác thì gọi là tà dâm. Nếu trong gia
đình chồng hay vợ đi ngoại tình với người ngoài, thì gia đình đó có hạnh
phúc không ? Ban đầu thả mình chạy theo lạc thú tưởng chừng như vui
sướng lắm. Nhưng khi bị vợ hay chồng phát giác thì có sự ghen tức ngăn
chặn, rồi sanh ra gây cãi đánh đập nhau,đưa đến ly thân ly dị khiến cho
con cái bơ vơ khổ sở. Đó là người không tu, trước thấy như vui nhưng sau
lại khổ. Còn người biết tu, sống một vợ một chồng, thấy như ràng buộc,
chấp trước, không hào hoa phong nhã. Song, nhờ vợ chồng biết sống chung
thỉ với nhau nên bảo vệ được hạnh phúc gia đình, con cái được an vui, êm
ấm. Đó là trước khổ sau vui của người giữ giới không tà dâm.


Giới thứ tư là không nói dối. thói thường người không biết tu làm ăn
buôn bán, muốn lời nhiều là phải nói dối. Hàng giá 5000 đồng nói 8000 để
được lời 3000 đồng. Đó là nói gạt người ta, không lương thiện. Người
biết tu chịu thiệt không nói dối, lời ít; hàng 5000 đồng nói 5000 đồng
bán ra 5200 lời 200 thôi. Người không tu thấy làm ăn thật thà như thế là
thiệt thòi. Nhưng thực tế thì không thiệt thòi mà còn lợi ích. Người
bán kông thách nói chắc giá, lần đầu người mua chưa tin, họ đi dọ giá
nhiều nơi thấy người này bán không thách, thật thà, họ tin và có cảm
tình, từ đó về sau họ sẽ đến mua hàng và giới thiệu nhiều người đến mua.
Trước, người bán gạt người mua nói giá cao, người mua chỉ mua vài lần
là không mua nữa. Khách hàng thưa dần, bán ế. Nay, người bán chân thật,
lời ít nhưng có uy tín, nhiều người mến, đến mua và giới thiệu nhiều
người mua, khách hàng càng ngày càng đông. tuy lời ít mà bán được nhiều
nên lợi nhuận nhiều và còn được lâu bền nữa. Đó là trước bị thiệt thòi
sau được lợi ích của người giữ giới không nói dối.

Giới thứ năm không uống rượu. Người uống rượu khi mới ngồi vào bàn tiệc
thì ai cũng vui cười hỷ hạ. Nhưng khi tiệc nửa chừng thì “rượu vào lời
ra”, nói bàn chuyện phiếm huyên thuyên. Khi đã ngà say nói nhiều không
kiểm soát được lời nói, nên phát ngôn bừa bãi làm mích lòng bạn bè. Bình
thường tỉnh táo chỉ mích lòng một, khi ngà say nó tăng lên năm mười,
sân giận tăng cường, đá bàn đạp ghế tại buổi tiệc không ai nhường ai. Từ
cái vui dẫn đến cái khổ của người không biết tu. Đó là giai đoạn thứ
nhất. Qua giai đoạn thứ hai, là đối với những người không có khả năng
kềm chế được mình, khi ngồi vào bàn tiệc thì người này mời ép người kia,
người uống một ly, mình cũng uống một ly. Cứ đua nhau mời ép uống, một
lát sau thì say túy lúy, chân đi
xiên bên này, chân ngã bên kia, về tới nhà nằm dật ra ụa mửa đầy đất,
hôi hám cả nhà, lại còn chửi bới vợ con, khổ ơi là khổ ! Tới cái khổ thứ
ba : Uống rượu là cái nhân gây ra bệnh hoạn, như chai gan, đau dạ dày
là những chứng bệnh kinh niên khó trị, làm cho kinh tế gia đình suy
giảm. Lúc đó thân đau bệnh mà lại nghèo túng không tiền thuốc thang thì
khổ không ít. Cái khổ thứ tư nữa là uống rượu làm cho trí tuệ mê mờ, nó
tác dụng mạnh trên thần kinh khiến cho thần kinh suy yếu thì người thông
minh sáng suốt hóa ra đần độn. Quí vị thấy những người sáng say chiều
say có mấy ai thông minh sáng suốt ? Tự bản thân đã mê mờ tăm tối, và
khi sanh con cái cũng lây đần độn ngu si nữa. Người uống rượu tự mình đã
chuốc khổ vào thân, lại còn gây tác hại cho gia đình xã hội không ít.
Khi mới uống thì thích khẩu vui miệng, nhưng sau đó thì khổ này chồng
lên khổ kia. Đó là không tu, vui trước khổ sau. Còn người đã qui y thọ
giới, biết uống rượu gây tác hại cho bản thân, cho gia đình cho xã hội,
nên nhịn không uống. Tuy bị bạn bè chê cười là kẻ hèn nhát, bỏn xẻn, thờ
bà thờ cô... Song người biết tu cam chịu chê cười không uống, nên
thân không bệnh hoạn, không nghiện ngập, trí tuệ sáng suốt minh mẫn, có
tư cách, mọi người nể trọng, biết làm ăn nuôi dưỡng vợ con, biết giáo
dục gia đình, đóng góp sự lợi ích cho gia đình cho xã hội không nhỏ. Đó
là trước khổ sau vui của người giữ giới không uống rượu.

Người mới biết tu chỉ giữ năm giới là đã bớt được bao nhiêu thứ khổ. Khi
mới khép mình vào giới luật thấy như khó khổ, nhưng khi đã quen rồi thì
nhận được lợi ích rất lớn. Đó là “Tu trước khổ sau vui” của người cư
sĩ.

Sau đây người xuất gia tu trước khổ sau vui. Theo quan niệm người đời
thì xuất gia coi như bỏ hết mọi hạnh phúc thế gian, hay bỏ cả cuộc đời
để sống một cuộc sống nghèo thiếu cực khổ; về phần thân xác thì ăn uống
kham khổ, ngủ nghỉ thiếu thốn. Nhưng tại sao họ lại sẵn sàng hy sinh
chấp nhận như thế ? Như tôi đã nói cái nhẹ nhàng gần nhất của người xuất
gia là không bị cột trói bởi gia đình, không bị ràng buộc bởi chồng hay
vợ, không bị kéo níu bởi con cháu. Sống một cuộc sống trọn vẹn cho mình
cho đạo. Nói thế quí vị sẽ nghĩ rằng người xuất gia không có con, nhưng
có đệ tử cũng phải bận rộn nhọc nhằn lo cho đệ tử. Chẳng hạn như tôi đệ
tử quá đông, đôi khi cũng khổ vì đệ tử vậy ? Làm thầy lo cho đệ tử có
khác với cha mẹ lo cho con. Cái khác thứ nhất là thầy bảo đệ tử làm
việc, thì đệ tử làm với niệm tu hành, làm vì cầu đạo giải thoát, chớ
không phải ích kỷ làm vì danh lợi. Thế nên làm trong hài hòa vui vẻ,
không tranh quyền không tranh danh, không tranh lợi, thì đâu có sự cãi
rầy hơn thua với nhau. Hơn nữa, người đệ tử khi vào chùa họ đã chấp nhận
sống kham khổ, nên làm ít ăn ít, làm nhiều ăn nhiều không đòi hỏi. Còn
con của quí vị lớn lên biết chưng dọn hình dáng bên ngoài, không cho nó
những món đồ tùy thuộc thì nó xin xỏ đòi hỏi; chẳng hạn như con gái độ
17, 18 tuổi không sắm bông tai, vòng xuyến... thì nó đòi hỏi xin xỏ. Con
trai 17, 18 tuổi thì đòi đồng hồ, honda cub... không sắm cho nó là nó
buồn có khi giận nữa. Còn các vị đệ tử Phật xuất gia rồi, chấp nhận sống
đời đạm bạc nên không đòi hỏi cái gì hết. Như vậy chúng tôi có gì đâu
lo nhiều ? Mặc dù chúng tôi phải có chương trình giảng dạy hướng dẫn cho
tu hành, lo chỗ ở, chỗ ăn... cho Tăng Ni. Tuy thấy như là bận rộn,
nhưng chúng tôi không có lo nhiều. Hơn nữa, người nào chịu sống theo
giới pháp của Phật, theo lời dạy của tôi thì người đó được ở trong chùa
để tu, người nào không chịu tuân theo, thì ra khỏi chùa đi nơi khác hoặc
hoàn tục, tôi không có trách nhiệm với vị đó nữa. Tôi không có từ, mà
người đó không chịu tuân theo giới pháp Phật, người đó tự thấy không
xứng đáng là đệ tử Phật, thì họ tự xin xuất chúng. Còn con của quí vị lỡ
bất hiếu ngỗ nghịch tjì quí vị tính sao đây ? Làm thế nào xử nó ? Đuổi
nó, nó không đi, hoặc đi rồi về, lại phá phách lung tung thì quí vị làm
sao ? Lỡ có một đứa con bất hiếu ngỗ nghịch, khổ dài dài ! Để thấy rằng
người tu tuy có đệ tử nhiều, song không bận rộn khổ sở như người tại gia
năm mười đứa con. Đó là nói về hoàn cảnh.

Sau đây là nói đến bản thân của người tu. Nếu còn là người đời, bị người
ta nói nặng một câu là trả lời bằng hoặc hơn mới vừa ý. Chớ còn nhịn
thua hoặc trả lời nhẹ hơn thì cảm thấy bức rứt khó chịu, ăn không ngon
ngủ không yên. Bây giờ là người tu thì tất cả lời nặng nhẹ khen chê đối
với mình không thành vấn đề. Người ta khen không giúp cho mình thành
Phật, người ta chê không làm cho mình có tội. Cái mà mình cần phải lưu
tâm đó là giữ đúng đạo lý tu hành. Có khen cũng tốt, có chê cũng không
sao, không để tâm buồn giận. Chẳng hạn đi ra đường mấy đứa trẻ trêu chọc
: “Đầu thầy chùa nấu canh chua, ba tháng còn chua”. Hoặc dùng đất đá
ném trên thân trên đầu... Người đời chắc chửi hoặc đánh nó. Nhưng với
người tu thì im lặng đi, vì thấy chúng nó là kẻ ngu khờ, không biết giá
trị của sự tu hành. Mặc tình nó nói gì thì nói, làm gì thì làm, đó là kẻ
ngu khờ dại dột đáng thương. Chính những lời nói xúc não đó là cơ hội
để mình tỉnh giác, tu, vun bồi thêm công đức lành. Nếu bị nói xúc não
liền buồn phiền đó là chưa tu. Thế nên, đối với người tu không sợ những
lời nói trêu chọc, cũng không sợ những lời nói oan ức ở bên ngoài, chỉ
sợ mình tu mà không khéo phản tỉnh, không hết phiền não, còn nhiều thói
hư tật xấu. Đó là cái đáng sợ. Người đời thì sợ dư luận lắm; dư luận mà
khen thì vui tươi hớn hở; dư luận mà chê thì buồn rầu không an. Nhưng mà
dư luận khen chê có đúng lẽ thật không ? Ví dụ : Người tửu lượng ít
khen người tửu lượng nhiều là giỏi, người ghiền rượu chê người không
uống rượu là dở. Thậm chí họ còn dùng lời cay độc để khiêu khích như :
Hèn nhát, thờ bà, sợ bà, cho nên không dám uống rượu. Họ cho rằng đàn
ông mà không uống rượu là đàn bà, rồi gán cho cái tên là Nguyễn thị Đàn
Bà... Thật là những lời châm biếm cay độc. Do vậy mà nhiều chú thanh
niên giàu tự ái, không làm chủ được mình rồi cũng uống. Thế là đua nhau
mà nghiện ngập. Người biết tu có trí tuệ có can đảm, xét thấy uống rượu
mặt nào cũng có hại nên không uống. Không uống rượu là người tốt mà dư
luận chê xấu, đó là dư luận xấu chớ mình đâu có xấu ! Vậy quí vị hãy
sáng suốt nhận định, người không uống rượu là người tốt hay người xấu
trong xã hội ? Nếu là người tốt, mà dư luận chê xấu thì mặc dư luận, có
quan hệ gì tới mình mà cho là nhục nhã ? Vậy mà người đời đang tốt, khi
bị chê xấu liền biến thành xấu, bằng cách tự ái tức giận làm theo cái
xấu của người ta. Cho nên xấu cả số đông. Dư luận có khi đúng có khi
sai, nên khi nghe chê, mình xét lại, nếu mình có lỗi, lời chê đó đúng,
thì mình sửa, nếu không đúng, chỉ cười thôi không bận tâm. Như vậy mới
là người tu có trí tuệ có khả năng tự chủ. Nếu để dư luận chi phối, cứ
theo cái đà lôi cuốn người này hư kéo người kia hư theo, không ai có sức
tự chủ cả.

Người tu là xả bỏ lòng tham lam, tíng nóng giận và tâm si mê, và khi
tham lam nóng giận si mê hết thì khổ không còn, hết khổ tức vui. Con
người có khổ là do tham, nhìn thấy người vật, nếu vừa lòng thích ý thì
muốn chiếm đoạt về mình, muốn mà không được thì buồn khổ. Chẳng hạn
người ta có tiền đi xe Honda cub, mình nghèo cứ chạy xe đạp cọc cạch,
muốn có chiếc xe cub mà không có tiền mua lòng ray rứt buồn tủi cho số
phận, như vậy là khổ. Còn người tu an phận trong nếp sống thanh bần,
thấy người đi xe tốt là việc của họ, mình đi xe đạp là hạnh của mình,
không khởi tâm so sánh đua đòi, thì tâm bình thản an ổn. Nên người biết
tu sống ở cảnh nào cũng vui, cũng an. Còn người không biết tu sống ở
cảnh nào cũng khổ, có xe cub chạy rồi, thấy người ta đi xe hơi, thì muốn
mình có xe hơi. Có được chiếc xe hơi đời cũ, thấy người chạy xe hơi đời
mới êm nhẹ thì muốn mình có xe hơi tân thời êm nhẹ... Cứ như thế mà
tham muốn không dừng; càng tham càng khổ, tham nhiều thì khổ nhiều.

Sân cũng vậy, khi tham muốn cao độ mà không được thỏa mãn thì sân giận
nổi lên, lòng bực tức, nóng nảy, mắt mặt đỏ hoe, miệng nói lời thô tục
hung dữ, tay chân đấm đá, tất cả đều hiện ra tướng xấu. Một ngày 12 giờ
đồng hồ, nổi sân một lần, chờ cho lắng dịu ít nhất cũng hết vài giờ, tâm
thần mới tỉnh táo an vui trở lại. Như thế đã thiệt thòi quá lắm rồi.
Nếu một ngày mà để nổi sân chừng vài ba lần, thì tướng xấu hiện hơn nửa
ngày, làm sao an vui ? Khi nổi sân, tướng xấu hiện, lúc đó mình là người
hay quỉ quái ? Ngày nào cũng tập thói quỉ quái đó, người ta thương mến
thân cận hay ghét bỏ xa lánh mình ? Kẻ mà bị người đời ghét bỏ xa lánh
mình ? Kẻ mà bị người đời ghét bỏ xa lánh thì rất khó sống, khổ sở vô
cùng. Người biết tu thường xuyên phản tỉnh nội tâm mình, khi đối duyên
xúc cảnh thấy tâm ray rức khó chịu, biết sân giận đang hiện khởi, liền
biết mình đang sân giận, thì sân giận từ từ lóng lặng, miệng không nói
bậy, tay chân không hoạt động phi pháp, thì mình hết phiền não sân giận,
người cũng không bị ảnh hưởng xấu do sân giận của mình gây nên, đó là
tu.

Si là cái gốc gây nên khổ đau cho con người. Do simê nên không giản
trạch được pháp nào là chánh, pháp nào là tà; việc nào là thiện, việc
nào là ác; điều nào là phước, điều nào là tội. Vậy nên nói càn làm bậy,
gây nhiều tội lỗi mà không biết không hay. khi đã tạo nghiệp ác rồi thì
quả khổ ắt sẽ đến, không tránh khỏi. Người tu có tỉnh giác, có sáng suốt
biết rõ pháp chánh pháp tà, việc thiện ác tội phước, nên theo pháp
chánh bỏ pháp ta, làm việc thiện mà tránh điều ác. Do làm lành nên được
an vui. Chẳng những an vui trong đời này mà đời sau cũng được an vui.
Trong kinh A Hàm, Phật có dạy : Người không biết tu khi chết khổ cả hai
phần, người biết tu chỉ khổ một phần. Tại sao ? Vì người không biết tu
khi sắp chết thân thể bại hoại, co giựt đau nhức, khổ về xác thân. Kế đó
họ không biết mình chết sẽ ra sao, đi đâu ? Mờ mịt một mình bơ vơ, lại
còn thương con thương cháu anh thương em... tình cảm buộc ràng, hơi thở
sắp ngừng mà tình thì không dứt, hai cái dằng co làm cho tâm khổ sở. như
vậy thân tâm cả hai đều đau khổ. Còn người tu biết khi sắp chết thân
này rã rời bại hoại thì nó phải đau đớn, nhưng biết cuộc đời giả tạm, ai
tới rồi cũng phải đi, có ai sống mãi đâu ? Lẽ thật của cuộc đời là sanh
già bệnh chết không ai cưỡng được. Biết được lẽ thật như vậy thì cái
chết đến sẵn sàng đón nhận không sợ. Thứ nữa, người biết tu hằng ngày
làm lành, không gây tội lỗi, biết chắc sau khi mình chết sẽ đi tới chỗ
lành, nên tâm không lo sợ, được an ổn. Giống như người có chiếc xu cũ
hư, trong tủ họ đã có để giành sẵn một số tiền, để mua xe mới thay cho
xe cũ. Khi xe cũ không còn xài được, họ liền sắm xe mới đẹp có giá trị
hơn, thay cho xe cũ một cách dễ dàng thoải mái, còn người nghèo có chiếc
xe cũ hư mà không có tiền để thay xe tốt; bỏ xe cũ thì không thể bỏ,
muốn có xe tốt, không biết làm sao mà được, nên lòng lo buồn khổ sở. Như
vậy người biết tu hằng ngày làm lành, tự khắc phục thói hư tật xấu của
mình, và giúp đỡ mọi người chung quanh, như thế là phước lành đã được
tích lũy, biết chắc chỗ mình sẽ đến là tốt thì không có gì lo sợ. Giống
như người có sẵn tư lương, đi tới đâu cũng no ấm không đói khổ, thường
được an vui. Người biết tu hiện đời ít khổ khi chết cũng không khổ
nhiều, qua đời sau lại được an ổn hơn. Nhờ tu mà các vị Thiền sư khi sắp
chết, từ giả mọi người, rồi cười ra đi một cách nhẹ nhàng. Còn người
đời khi sắp chết thì lo sợ hoảng hốt khóc la kinh hoàng khổ sở vô cùng.

Người biết tu là người tìm an vui hạnh phúc chân thật, đó là người biết
lo xa. Thói thường người đời không biết lo xa, hằng ngày không chịu tu
nhân lành tích phước đức, mặc tình nghĩ nói làm tội lỗi. Khi gần chết
rước Tăng Ni tới đônmg tụng kinh đưa về Cực lạc. Có đưa được không ?
Chắc đưa không nổi. Tại sao? Vì việc mình thường làm trở thành thói quen
đó là nghiệp. Mà đã là nghiệp thì tự mình chuyển chớ không ai chuyển
thế được. Chẳng hạn người tập hút á phiện lâu ngày họ ghiền. Bao nhiêu
tiền của trong nhà đều hết sạch, cảnh nhà nghèo khó, tới cơn ghiền không
tiền hút, chảy nước dãi ngáp dài ngáp vắn... Người láng giềng thấy thế
thương xót muốn giúp cho họ hết ghiền, đến chùa rước Tăng Ni tới tụng
kinh cầu nguyện cho người ấy hết ghiền. Tăng Ni có ai dám hứa tụng kinh
cho người ấy hết ghiền không ? Chắc chắn là không. Muốn hết ghiền tự
người ấy phải cai hút, gan dạ từ bỏ không hút nữa, thì mới hết, chớ
người ngoài không làm cho họ hết ghiền được. Cũng vậy, thói quen do làm
lành hay làm ác đã thành nghiệp, thì nghiệp lành dẫn người tạo đến cõi
lành, nghiệp ác dẫn người tạo đến cõi ác. Lúc đó Tăng Ni không
thể thế hay cầu nguyện cho mình thay đổi được. Tăng Ni tụng kinh cầu
nguyện chẳng qua là trợ niệm thêm sức cho đi nhanh vậy thôi. Giống như
thuyền xuôi dòng nước, lại có gió xuôi thì thuyền đi mau hơn một chút.
Đừng ỷ lại bình thường tôi hay đi chùa, quen biết các thầy các cô nhiều,
khi chết mời các thầy các cô đông, tụng kinh cầu nguyện cho tôi sanh về
cõi lành. Điều này không bảo đảm, mà phải tự mình tu, làm cho tham sân
si càng ngày càng mỏng càng mòn, nghiệp ác không tạo nữa, nghiệp lành
siêng năng phát triển. Như thế mới thật là tu, và mới hết khổ trong hiện
đời, hết khổ trong mai sau. Nếu không như vậy thì chưa phải tu theo đạo
Phật, chỉ là người đi chùa ăn chay mà chưa biết tu.

Quí vị nhớ tu là phải tu cho đúng, chớ đừng qua hình tướng bên ngoài. Có
nhiều vị lần chuỗi cốt lần cho nhanh để được nhiều chuỗi đem trình với
thầy, thầy khen mình tu giỏi. Khi buông xâu chuỗi xuống thì la rầy chửi
rủa con cháu, phải quấy hơn thua với xóm giềng... Tu như thế là tu sai,
lần chuỗi niệm Phật là phải thong thả từ từ, miệng niệm tai nghe rõ danh
hiệu Phật, một danh hiệu Phật là một hạt chuỗi, nhiếp tâm không cho
nghĩ bậy, niệm Phật như thế tâm mới an định. Niệm Phật để tính công trả
nợ, thói hư tật xấu không sửa không chừa thì không được lợi ích. Ở chùa
thỉnh thoảng cũng có mấy ông đạo tu để trả nợ, tối khuya hai thời công
phu, nhất là tụng chú Lăng Nghiêm, gỏ mõ thật nhanh tụng cho mau rồi,
thay vì tụng một giờ, tụng rút chừng 45 phút xong, đặng xuống ngủ lại.
tu như thế là tu cho ai chớ đâu phải tu cho mình, nếu thật tu cho mình
là phải tụng đàng hoàng chậm rãi, đọc đúng lời đúng chữ nương câu kinh
để tâm được an định mới được lợi ích. Nếu tụng kinh để trả nợ thì tâm cứ
xao xuyến loạn động hoài. Mà bây giờ người ta hay có cái tật tu để trả
nợ. Đó là những điều mà tôi nêu để quí vị biết ý nghĩa chân chánh của sự
tu hành.

Quí vị nghiệm lại xem có phải tu là trước khổ sau vui không ? Nếu phải,
thì hãy cố gắng tu hành, trước tuy có thiệt thòi khó khăn một chút,
nhưng sau được an vui, chẳng những an vui trong đời
hiện tại, mà đời sau cũng được an vui nữa. Muốn được lợi ích lớn trước
phải hy sinh chấp nhận mọi khó khổ, sau đó mới thành tựu quả tốt, không
phải ngẫu nhiên mà được vui. Chẳng hạn muốn mọi người thương mến mình,
thì ít ra mình cũng phải vui vẻ lưu tâm giúp đỡ người, chớ gặp người khổ
mình làm lơ họ đâu có cảm tình với mình. Thế nên tất cả cái tốt đến với
mình là do ban đầu mình chịu hy sinh, chịu thiệt thòi mà có, đừng đòi
hỏi tu là phải sung sướng từ trước tới sau. Đa số người tu bây giờ đòi
hỏi quá đáng, đi chùa cúng Phật một thẻ nhang, hoặc bó hoa hoặc dĩa trái
cây, cầu xin cho gia đình người già được mạnh khỏe, người trẻ thì làm
ăn phát đạt, trẻ nhỏ thì thi đâu đậu đó. Quí vị nghĩ đưa ra có một thẻ
nhang, một bó hoa, dĩa trái cây mà đòi mấy việc như vậy có tham không ?
Đi chùa như thế là để tăng trưởng lòng tham chớ đâu có tu. Phật dạy tu
là bớt tham, vậy mà Phật tử đi chùa tham quá chừng, cho nên không hết
khổ. Đi Chùa với tâm niệm tham muốn như vậy, nếu không được toại nguyện,
cha mẹ đau yếu hoài, làm ăn thất bại, con cái thi rớt thì buồn, nghĩ
Phật không thương không giúp, giận không đi chùa nữa. Người tu như thế
thật đáng thương, không hiểu Phật pháp như thế nào cả, cứ mù mù mịt mịt
làm theo lòng tham muốn của mình, chẳng được lợi ích gì cả. Tu là tự sửa
mình, làm cho cạn mỏng tham sân si ở nơi mình thì mới hết khổ. Đó mới
là người tu chân chánh thực hành đúng lời Phật dạy.
(bài sưu tầm)

_________________
Cư sĩ DIỆU ĐỊNH
--------------------
Hoa sen giữa đầm bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn


minh đài
Mod

Tổng số bài gửi : 69
- + Điểm Đạo Hạnh : 6
Join date : 06/11/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết